Tưởng niệm 50 Mậu Thân 68

Kính thưa Quý vị,

Xuyên suốt lịch sử tội ác mấy ngàn năm của nhân loại, chủ nghĩa CS là thủ phạm đứng đầu mọi tội ác. Trong thế kỷ 20, các chế độ CS đã tàn sát hàng trăm triệu người, trong đó hầu hết nạn nhân đều là đồng bào của người CS. Trong số những quốc gia theo chủ nghĩa CS, CSVN độc ác, tàn nhẫn nhất, vô nhân đạo nhất và thủ đoạn nhất. SỰ THẬT này đã được chứng minh kể từ khi đảng CSVN được thành lập vào năm 1930, cũng như trong suốt cuộc chiến tranh VN.

ĐẶC BIỆT TRONG DỊP TẾT MẬU THÂN 1968, tội ác của CSVN trở nên khủng khiếp và ghê rợn hơn tất cả: Chỉ trong thời gian ngắn ngủi không đầy 4 tuần lễ, CSVN đồng loạt tấn công các thành phố, thị xã trên lãnh thổ Miền Nam, thực hiện hàng ngàn vụ đàn áp khủng bố, thủ tiêu, bắt bớ… khiến hàng chục ngàn người dân vô tội bị giết, kể cả 7000 người tại Huế “bị thảm sát, bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có cả việc bị cột người lại thành từng xâu, rồi bị đẩy xuống hố chôn sống”.

Để có thể tái tạo một trong muôn vàn tội ác của cộng sản Việt Nam, và để cùng đốt nén nhang lòng tưởng nhớ những người đã khuất, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng Quý vị, những bài Tưởng Niệm 50 Năm Thảm Sát Mậu Thân, của các tác giả, được phổ biến qua các diễn đàn, blogs, emails, facebooks…

Lữ Giang: “Mậu Thân Huế – Tại sao phải thảm sát?” (xin click vô đây coi toàn bài)

Hoàng Long Hải: “Hồi ký Tết Mậu Thân ở Huế” (xin click vô đây coi toàn bài)

Ngô Minh Hằng: Thơ “Huế Ơi Bao Giờ Rửa Được Hờn Oan?” (xin click vô đây coi toàn bài)

Nguyễn Thị Thái Hòa: “Hoàng Phủ Ngọc Phan, Đao Phủ Thủ vụ Thảm sát Huế Mậu Thân” (xin click vô đây coi toàn bài)

Phạm Thanh Phương: “Tưởng niệm 50 năm Tết Mậu Thân 1968-2018” (xin click vô đây coi toàn bài)

Phạm Thanh Phương: “Lời Xin Lỗi Lưu Manh” (xin click vô đây coi toàn bài)

Phạm Thanh Phương: Thơ “Nhớ một mùa xuân” (xin click vô đây coi toàn bài)

Bạch Diện Thư Sinh: “Tết Mậu Thân 1968 tại Huế”  (xin click vô đây coi toàn bài)

Liên Thành: “Huế – Địa Ngục Trần Gian Có Thật” (xin click vô đây coi toàn bài)

Liên Thành: “Thảm sát Mậu Thân 1968 – GỞI THẦY HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG” (xin click vô đây coi toàn bài)

Hy vọng qua những bài viết trên, Qúy độc giả, với tấm lòng xót xa, đau đớn của những nạn nhân cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ thấy rõ lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tội ác của một chế độ, đối với chính người dân của chế độ CSVN, quả thực đã vượt khỏi biên cương quốc gia, tung hoành khủng bố trong mỗi gia đình, mỗi cuộc đời, để rồi đến hôm nay, những tội ác kinh tâm động phách đó, vẫn còn mãi mãi tiếp tục ám ảnh, giầy vò, tra tấn… những người sống sót, cho dù họ sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở bất cứ chân trời góc biển nào…

Trân trọng,
Hữu Nguyên

Đăng tải tại Đặc Biệt | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tưởng niệm Thảm sát Mậu Thân – PTP

Lời Xin Lỗi Lưu Manh

Phạm Thanh Phương

Vợ chồng đệ nhất đao phủ thủ Huế: VC Hoàng Phủ Ngọc Tường & Lâm Thị Mỹ Dạ

Đặc biệt năm nay, nhân dịp xuân về, CSVN “hồ hởi, phấn khởi” tổ chức ăn mừng “chiến thắng vĩ đại” đã giết hại nhiều thường dân vô tội trên khắp Miền Nam, nhất là tại Huế, trong những ngày đầu năm cách đây 50 năm. Sự “ăn mừng chiến thắng” này đã tạo ra một làn sóng phẫn nộ trong dư luận từ quốc nội đến hải ngoại.

Trước sự kiện này, đa số cho rằng đây là một sự ngu xuẩn, trơ trẽn  nhất của CSVN, nếu thực sự họ muốn có một sự hòa giải giữa đảng, nhà nước với người dân. Tổ chức ăn mừng, kỷ niệm với danh xưng chiến thắng lại càng chứng tỏ một sự vô cảm và vô liêm sỉ của những người CS. Chắc chắn, tất cả người dân miền Nam ai cũng hiểu, sự thật về biến cố Tết Mậu Thân không phải là chiến thắng, mà là bằng chứng hiển nhiên về tội ác của CSVN.

Nhắc đến tết Mậu Thân là nhắc lại sự đau buồn của người dân miền Nam nói chung và đặc biệt là người dân Huế… Có lẽ ai cũng biết, trong lúc đảng và nhà nước CSVN đang nhảy múa ăn mừng thì trong nhà từng người dân Huế đang nhang khói, sụt sùi tưởng nhớ người thân đã bị tàn sát một cách dã man trong những ngày này cách đây đúng nửa thế kỷ. Trong chiến tranh, CSVN còn có thể viện cớ này, cớ nọ để ngụy biện, bịp bợm cho những hành độc tàn ác đầy thú tính của họ. Nhưng hôm nay, sự kiện đã đi vào lịch sử 50 năm với 42 năm không còn chiến tranh, sự thật đã được phơi bày quá rõ ràng qua những nhân chứng sống và văn khố quốc tế, CSVN vẫn còn bịp bợm một cách ngu xuẩn, để hãnh diện với những chiến thắng tưởng tượng như thế này thì làm sao có thể thống nhất được nhân tâm, tìm được sự đoàn kết xây dựng đất nước…

Cũng trong dịp tưởng niệm 50 năm thảm sát tết Mậu Thân, một bức thư xin lỗi của Hoàng Phủ Ngọc Tường đăng tải trên BBC về biến cố Mậu Thân tại Huế năm xưa. Hiện tượng này cũng tạo ra một sự tranh cãi rất sôi nổi trong dư luận.

Qua bức thư cuối đời này của Tường, nhiều người nhận định, trên hình thức là xin lỗi nhưng thực chất Tường chỉ chạy tội cho chính mình một cách thô thiển bằng sự nhìn nhận một vài “sai lầm” nho nhỏ, nhưng vẫn không tránh khỏi thể hiện sự gian trá, lưu manh của con người Cộng Sản.

Sai lầm của tôi là nhận lời ông Burchett và đoàn làm phim “Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình” trả lời phỏng vấn với tư cách một nhân chứng Mậu thân Huế 1968, trong khi tôi là kẻ ngoài cuộc.

Trong lá thư xin lỗi, Tường xác nhận “Sai lầm của tôi là nhận lời ông Burchett và đoàn làm phim “Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình” trả lời phỏng vấn với tư cách một nhân chứng Mậu Thân Huế 1968, trong khi tôi là kẻ ngoài cuộc.”. Lời xác nhận này chỉ là sự nói dối xuông, không có gì gọi là hối hận của một kẻ phạm tội. Có lẽ ai cũng biết, dù không có mặt  tại hiện trường, nhưng Tường vẫn là một trong những người có liên quan mật thiết đến sự tàn sát dân lành trong biến cố tết Mậu Thân 1968. Hơn nữa, có nhiều người dân Huế cho biết, chính Tường đã có mặt và từng nhiều lần ngồi ghế “chánh thẩm” cái gọi là “toà án nhân dân” lang thang trong thành phố lúc ấy và đưa ra phán quyết, tử hình một số thường dân. Nó cũng giống như “toà án nhân dân” trong chiến dịch “cải cách ruộng đất” năm xưa vậy.…

Nếu ai đã đọc bức thư “xin lỗi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, chắc hẳn sẽ thấy được sự tránh né và gian trá trong đó. Bức thư viềt “ Về chuyện máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viện nhỏ ở Đông Ba chết 200 người, tôi đã nói: Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu.  Chi tiết đó không sai, sai ở chỗ người chứng kiến chi tiết đó không phải là tôi, mà là tôi nghe những người bạn kể lại”.  Mặc dù Tường thú nhận câu chuyện chỉ được nghe kể lai, nhưng vẫn gian trá không dám nhìn nhận những tội ác đó là do CSVN và đám nằm vùng như Tường, mà vẫn đổ tội cho Mỹ. Trong khi đó theo những nhân chứng người Huế còn sống cho biết thì ở đó không có bệnh viện nào cả, mà chỉ là một trạm ý tế nhỏ, thử hỏi lấy đâu ra con số 200 người.  

Cũng trong bức thư, Tường viết “Trong cuộc trả lời phỏng vấn này, khi nói về thảm sát Huế, tôi đã hăng hái bảo vệ cách mạng, đổ tội cho Mỹ. Đó là năm 1981, khi còn hăng say cách mạng, tôi đã nghĩ đúng như vậy. Chỉ vài năm sau, tôi đã nhận ra sai lầm của mình.  Đó là sự ngụy biện. Không thể lấy tội ác của Mỹ để che đậy những sai lầm đã xảy ra ở Mậu Thân 1968.”

Cái lưu manh của Tường là tỏ ra hối hận mà lại chẳng có gì là hối hận, vẫn lưu manh ngụy biện cho tội ác do bè lũ khát máu CSVN gây ra bằng hai chữ “sai lầm”, còn tội ác thuộc về Mỹ. Chẳng lẽ những cái chết oan khiên bằng búa rìu, cuốc, xẻng và chốn sống đối với hơn năm ngàn dân Huế không phải tội ác mà chỉ là sai lầm hay sao? Còn lại đám CS nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh và còn nhiều nữa đi lùng từng nhà, giết bao nhiêu người sao không thấy đề cập đến. Những hành động dã man của CSVN và đám nằm vùng này chắc hẳn cũng chỉ là hiện tượng sai lầm trong khoảnh khắc chứ không phài là bản chất khát máu đầy thú tính của CS hay sao?…

Thật đáng tiếc, vào những ngày cuối đời ngấp nghé cửa âm ty của một tên nằm vùng như Tường, người ta vẫn không tìm thấy một sự thành thật nào, mặc dù Tường đã vô tình xác nhận sự tàn sát dân Huế là do hành động của “quân nổi dậy”. Ba chữ “quân nổi dậy” này cũng lại thể hiện một sự gian trá lấp liếm. Những nhân chứng sống chưa chết hết, họ vẫn còn tồn tại để chứng minh không có người dân nào nổi dậy trong biến cố Mậu thân tại Huế nói riêng và toàn thể miền Nam nói chung. Người ta chỉ thấy khi quân CS bắc Việt tiến vào thành phố và đám CS nằm vùng chạy ra theo đuôi tàn sát, thì toàn bộ người dân tất tưởi chạy về phía  quân đội VNCH  để tìm sự bảo vệ, che chở. Như vậy sự thật ở đâu? Sự thật ở trong long người dân hay trên cửa miệng của những tên ác qủy CSVN?…

Mặc dù năm nay đã 81 tuổi, mang một thân thể bệnh hoạn. Nhưng qua bức thư “xin lỗi” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người ta không tìm thấy một sự chân thành nào, ngược lại chỉ thấy toàn những lời nguỵ biện dể chạy tội cho sự dã man, tàn bạo của CSVN vả bè lũ tay sai “ăn cơm quốc gia, thờ ma CS” trong đó có bản thân đương sự. Tất cả những lởi lẽ tưởng như “xin lỗi” nhưng lại ngầm xác định những cái chết oan khiên của người dân Huế trong biến cố Mậu Thân không phải là tội ác diệt chủng mà là một “chiến thắng vĩ đại” của CSVN.

Cũng qua bức thư này, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã đồng lõa cho đây là một sự thành thật, ông đã nhận định trên BBC như sau “Cá nhân tôi thấy ông Tường bây giờ xin lỗi là đã quá thành thật. Lẽ ra ông ấy chẳng cần phải xin lỗi vì đó là quan điểm hồi 1981. Lúc đó người ta còn hăng hái lắm. Bản thân tôi lúc đó nếu có ai hỏi tôi về vụ này thì tôi cũng nói như ông Tường”. 

Trên thực tế, hiếm có ai trách móc quá khứ khi chỉ vì những lời nói dối mù quáng trong nhất thời, nếu hiện tại biết giác ngộ để thành thật. Hơn nữa, cũng chẳng mấy ai quan tâm nhiều đến những lời nói dối lươn lẹo, trơ trẽn của CS, bởi đó chính là bản chất không thể thay đổi dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Tuy nhiên, đứng trên cương vị và lương tâm của một người cầm bút đã được mệnh danh là nhà văn, ông Lập nhận định những lời ngụy biện luơn lẹo của Tường là ”quá thành thật” là một điều không thuyết phục để người dân miền Nam chấp nhận.

Theo thiển nghĩ của chúng tôi, thà rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường đừng nói gì hết còn hay hơn, chẳng nói thì tất cả người dân Việt đều hiểu, sự nói dối lúc ấy là một điều tất yếu, không thể khác, không phải chỉ riêng Tường mà tất cả những tên CS hay CS nằm vùng đều như nhau. Vì đó là bản chất không phải là hiện tượng nhất thời để phải ngỡ ngàng hay ngạc nhiên.

Đọc kỹ bức thư cuối đời này mới thấy Tường không có chủ trương bày tỏ sự hối hận thực sự. Hình thức hối hận này chỉ mong tạo một tấm bình phong, cố gắng che đậy những tội ác của CSVN và đám tay sai nằm vùng như chính bản thân đương sự và đồng bọn mà thôi.

Phạm Thanh Phương

Đăng tải tại Đặc Biệt

Thảm sát Mậu Thân 1968

Tết Mậu Thân 1968 tại Huế

Bạch Diện Thư Sinh

Hình trên: Ông Nguyễn Khắc Bình, cựu Đặc ủy trưởng ĐUTƯTB, trong buổi ra mắt sách “Mặt Trận Đại HọcThời Việt nam Cộng Hòa” của tác giả Bạch Diện Thư Sinh (hình nhỏ bên phải)

LGT (SGT): Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ, bí thư cho Đức Cha Lê Hữu Từ, là người không đội trời chung với bè lũ cộng sản vô thần. Vì vậy, sau khi phụ trách 10 giáo phận di cư vào năm 1954-55, Ngài đã được Đức Khâm Sứ Giuseppe Caprio tuyển chọn làm bí thư Toà Khâm Sứ Toà Thánh từ 1956 cho đến khi bị bị chính quyền Cộng Sản trục xuất ra khỏi Việt Nam vào năm 1976. Sang tới Roma, Đức Ông Thụ tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng, trước khi được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyển chọn làm bí thư suốt 8 năm (1988 – 1996). Đức Ông Thụ có người em đôi con dì, tên là Trần Vinh, sinh quán Ninh Bình, tốt nghiệp Cao Học Văn Khoa Đại Học Sàigòn, nhập ngũ 1970, từng làm việc tại Phủ Đặc Uỷ TƯTB/VNCH, và sau 1975, bị đi tù cải tạo hơn chục năm. Qua bút hiệu Bạch Diện Thư Sinh, ông Trần Vinh đã viết nhiều tác phẩm, bài viết giá trị, tố cáo tội ác CS trước 1975. Sau đây là bài viết của ông về tội ác của những học sinh, sinh viên, giáo sư đi theo VC, trong vụ thảm sát Mậu Thân Huế 1968.

*

Câu “Đồ lừa thầy phản bạn” xưa nay là một lời mắng chửi thậm tệ. Vậy mà bọn cẩu tặc Việt Cộng còn tệ hơn thế nữa. Vì cuồng tín theo đảng Cộng sản, bọn này sẵn sàng giết thầy giết bạn một cách tàn ác.

Đêm Mồng Một Tết Mậu Thân 1968, phỉ quân VC tràn vào thành phố Huế và làm chủ Huế suốt 25 ngày đêm. Trong thời gian này, bọn Cộng sản đã biến Huế thành địa ngục trần gian. Hàng ngàn người dân Huế bị thảm sát, trong đó có những nạn nhân là thanh niên, sinh viên, học sinh và cả trẻ em, phụ nữ. Chúng giết dân bằng đủ cách: đâm bằng lưỡi lê, dùng cuốc đập bể sọ, dùng súng bắn, chôn sống tập thể trong khi nạn nhân bị trói bằng dây điện hoặc lạt tre… Sau khi phỉ quân VC bị đánh bật khỏi Huế, lần lượt các nấm mồ tập thể đã được tìm thấy ở trường Gia Hội, Bãi Dâu, chùa Therevada, phía sau Tiểu chủng viện, gần cửa Đông ba, Cồn Hến, Nam Giao, Phú Xuân, cạnh Lăng các vua, khu vực Dòng Thiên An, Phú Xuân, Phù Lương, làng Châu Chữ, câu An Ninh, trường An Ninh Hạ, Chợ Thông, gần chùa Linh Mụ, truờng Văn Chí, Phú Thứ, Tiên Nộn, Đồng Di, Tây Hồ, Khe Đá Mài, Khe Lụ, sau làng Đình Môn…

Người dân Huế đã nhận diện trong số những đao phủ thủ, có những tên vốn là giáo chức, là sinh viên, học sinh ở Huế: Hầu hết những tên này đã từng tham gia vào Lực lượng Học sinh, sinh viên Quyết tử trong Phong trào Phật giáo năm 1966. Đứng đầu là các tên cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường (dạy Việt văn), Hoàng Phủ Ngọc Phan (sinh viên Y khoa năm 2), Nguyễn Đắc Xuân (sinh viên Sư phạm), Nguyễn Thị Đoan Trinh (sinh viên Dược), Trần Quang Long (sinh viên Sư phạm), Phan Chánh Dinh, tức Phan Duy Nhân, Hoàng Văn Giàu (phụ khảo Văn khoa), Nguyễn Thiết (sinh viên Luật), Bửu Chỉ (họa sĩ), Trần Vàng Sao (sinh viên), Ngô Yên Thy (sinh viên Văn khoa), Trương Quang Ân (học sinh), Nguyễn Văn Mễ (học sinh)…

TỘI ÁC CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Vợ chồng đệ nhất đao phủ thủ Huế: VC Hoàng Phủ Ngọc Tường & Lâm Thị Mỹ Dạ

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một thầy giáo trẻ, dậy Văn giỏi, được giới sinh viên, học sinh Huế ngưỡng mộ, nhưng Tường đã đi theo Cộng sản và trở nên một thành phần cực đoan, tàn bạo. Đến nỗi một số nhà cầm bút gốc Huế xếp Hoàng Phủ Ngọc Tường đứng đầu trong danh sách những đao phủ thủ sát hại dân Huế hồi tết Mậu Thân 1968.

Trong cuốn Biến Động Miền Trung (Trang 110 – 112), tác giả Liên Thành trưng ra 6 bằng chứng để khẳng định: “Bằng vào một số chứng cớ rõ ràng, minh bạch, tôi xác nhận cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường là người chủ tọa phiên tòa án Nhân Dân của phỉ quyền Cách Mạng, và ra lệnh sát hại 204 người tại trường học Gia Hội thuộc Quận II, thị xã Huế trong Tết Mậu Thân 1968” (Liên Thành. Biến Động Miền Trung. Tập san Biệt Động Quân xuất bản. Trang 110). Trong sách, tác giả Liên Thành viết thầy Tường của mình có “khuôn mặt hiền từ”, “thầy còn giảng dạy cho chúng tôi những lẽ phải, trái, tư cách làm người, đạo đức, và tấm lòng nhân hậu thương yêu mọi người…” (Sđd. Trang 107). Ngay sau đó, tác giả Liên Thành thắc mắc hỏi cái gì làm thầy Tường của ông “mù quáng say mê chủ nghĩa Cộng Sản”, để trở “thành một tên ác qủy giết người không gớm tay, say máu người còn hơn qủy dữ(Sđd. Trang 108).

Thêm vào đó, trong bữa tiệc họp mặt sau 1975, bạn của Tường là Gs. Bửu Ý chỉ mặt Tường mà nói: “Tường, mi là một thằng trí thức sắt máu, hèn hạ, giờ này mi chưa sáng mắt, còn chạy theo liếm đít Đảng nữa hay sao” (Sđd.Trang 109).

Gương mặt độc ác và lưu manh của “nhà văn” Hoàng Phủ Ngọc Tường, trong bộ phim 10 tập Vietnam History.

Trong bộ phim 10 tập Vietnam History do một đài truyền hình Anh Quốc thực hiện năm 1982 (Roll 29 of Vietnam Project- Feb. 29, 1982- Inteview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer), cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường (hình trên) đã được hỏi như sau: “Ông có thể mô tả biến cố về cuộc nổi dậy tại Huế và đặc biệt liên quan đến cuộc thảm sát từ khi ông có mặt tại đây?” Để trả lời, cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đổ tội cho đế quốc Mỹ cố tình dựng nên câu chuyện “thảm sát Mậu Thân Huế”. Tường xác nhận có một số bị giết vì: Một là họ bắn vào lực lượng cách mạng; hai là vì họ đã phạm tội bắt bớ, tra tấn, bỏ tù người theo cách mạng cho nên nay bị trả thù. Nhưng Tường cáo giác đa số những xác chết sau này khai quật được ở Huế lànạn nhân đạn bom của Mỹ, cộng với những xác chết bộ đội giải phóng. Tường nói tiếp : “Chẳng hạn, nó [Mỹ] đã bỏ bom rơi vào một bệnh viện nhỏ, gần chợ Đông Ba. Nó thả bom làm 200 người vừa chết vừa bị thương. Tôi đã đi trên con đường hẻm vào ban đêm, và tôi tưởng rằng tôi đang dẫm trên đống bùn. Thế mà khi tôi bật cái đèn pile lên, máu khắp mọi nơi. Cả một khu vực bị bỏ bom bởi bom đạn Mỹ bắn phá. Và thế rồi, những ngày cuối cùng khi chúng tôi triệt thoái ra khỏi thành phố, kẻ thù của chúng tôi đã thâu lại và đem đi chôn”.

Xin chú ý trong câu trả lời này, Tường xác nhận y có mặt tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968. Trong bài Thảm Sát Mậu Thân 1968 Và Luận Điệu Gian Dối Của cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn Huy Phương cũng đặc biệt nhấn mạnh 2 điểm đáng chú ý về câu trả lời trên đây của cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông viết: “Chính câu hỏi của phóng viên đài truyền hình ờ đầu bài đã xác nhận sự thật, vì nếu Tường không có mặt ở Huế, sẽ không có cuộc phỏng vấn này cũng như nội dung câu hỏi được đặt ra ở trên. Mặt khác, sau này chính y không nhớ là mình đã thú nhận chuyện có mặt ở Huế vào phút thứ 6 của đoạn phim này, vào năm 1982, khi Tường mô tả chuyện y đang đi trong những con đường hẻm vùng Đông Ba và đã nói những câu “khi chúng tôi rút lui” hay “tôi là một chứng nhân” nghe rất rõ ràng” (bacaytruc.com).

Nhưng qua năm 1997, cẩu tặc cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời bà Thụy Khuê trên đài RFI thì thấy có 2 điểm quan trọng khác hẳn câu trả lời phỏng vấn năm 1982. Một là Tường chối không có mặt tại Huế khi đang diễn ra cuộc thảm sát. Hai là Tường xác nhận có “những tang tóc thê thảm” ở Huế do “quân nổi dậy” và nhìn nhận đó là “một sai lầm không thể nào biện bác được”. Nguyên văn câu trả lời của Tường như sau: “Người ta cho tôi là một tên đồ tể Mậu Thân ở Huế thì đó là một sự bịa đặt mang ý định vu khống hoàn toàn. Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966 và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu thân 1968, tôi không có mặt ở Huế. Điều quan trọng còn lại, tôi xin tỏ bày ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và đã trở về; ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải chịu cho hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế vào năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc và nhìn từ quan điểm chiến tranh cách mạng” (Bằng Phong Đặng Văn Âu. Thư gửi Nguyễn Đắc Xuân. Batkhuat.net).

Tiền hậu bất nhất. Cái lưỡi (Cộng sản bao giờ cũng) không xương (cho nên) nhiều đường lắt léo!

TỘI ÁC CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

Cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Phan, em của cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh viên Y khoa năm 2 Huế, đã phạm tội đồng lõa giết chết các giáo sư bác sĩ người Đức (Bs. Slois Alterkoster, Bs. Raimund Discher, Bs. Hort Gunther Kranick và vợ) là thầy của y, bằng cách chôn sống.

Chính tên Hoàng Phủ Ngọc Phan bắn chết 3 anh em ruột: Nguyễn Xuân Kính (sinh 1942, Y khoa Huế, bị bắn chết tại nhà ông nội), Nguyễn Xuân Lộc (sinh 1946, sinh viên Luật Huế, bị bắn chết tại nhà ông nội), Nguyễn Thanh Hải (sinh 1949, sinh viên Văn khoa Huế, bị bắn chết tại trường Văn khoa). Giết các cháu xong, Phan còn đang tâm bắn chết cả ông nội của 3 sinh viên này là cụ Nguyễn Tín, 70 tuổi. Sau khi bắt Lê Tuấn Văn (sinh viên Văn khoa Huế, là bạn của sinh viên Hải) đào huyệt tại vườn sau nhà cụ Nguyễn Tín để chôn cụ và 3 người cháu của cụ (xác sinh viên Hải đã được em gái là sinh viên Ban Cán sự điều dưỡng Nguyễn Thị Thái Hòa đưa về đây), tên Hoàng Phủ Ngọc Phan hành quyết nốt sinh viên Văn. (Mậu Thân Huế. Câu Chuyện Của Nguyễn Thị Thái Hòa. WordPress.com).

TỘI ÁC CỦA NGUYỄN THỊ ĐOAN TRINH

Y thị là sinh viên dược khoa Đại Học Sàigòn, trước Mậu Thân 1968. Y thị về Huế nghỉ Tết để nhận trách nhiệm trong Mậu Thân. Y thị tham gia đoàn An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Phan. Cha của y thị là Nguyễn Đóa, anh rể là Tôn Thất Dương Tiềm. Cả ba, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Duơng Tiềm đều là những tên đại đồ tể, những kẻ giết người không kể xiết trong Mậu Thân 1968 tại Huế.

Còn nhớ rõ trong suốt thời gian Việt Cộng chiếm Huế, y thị mặc bộ đồ màu hồng, mang súng AK 47, đi xe Honda lùng bắt “Ngụy Quân Ngụy quyền”. Gặp bất cứ thanh niên , đàn ông nào, y thị cũng chận lại xét hỏi. Nếu ai vô phúc trả lời là Quân Nhân hay Cảnh sát, y thị nổ súng hạ sát ngay lập tức.

Sau Mậu Thân, y thị thoát ly ra Bắc, tiếp tục học dược khoa. Sau 1975 vào sinh sống tại Sài Gòn. Hiện nay Nguyễn Thị Đoan Trinh là một đại thương gia giàu có, sống nhỡn nhơ trên tội ác năm Mậu Thân.

TỘI ÁC CỦA NGUYỄN ĐẮC XUÂN

Xuân nổi bật lên trong Đoàn Học sinh, sinh viên Quyết tử với hàng ngàn đoàn viên hồi phong trào Phật giáo Huế 1966. Rồi “nhảy núi”, hay “lên xanh”, theo Việt Cộng. Tết Mậu Thân 1968 trở về chỉ huy Lực lượng Học sinh, sinh viên Giải phóng Huế. Đồng thời Xuân cùng với Hoàng Phủ Ngọc Phan chỉ huy các Đoàn Thanh niên Võ trang An ninh Bảo vệ Khu phố (các Đội Tự vệ Thành). Lực lượng này đã gieo tang tóc kinh hoàng cho dân Huế trong 3 tuần lễ phỉ quân VC tạm chiếm thành phố này. Xuân và Phan còn dự phần xét xử trong Tòa án Nhân dân do cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa và chúng đã kết án tử hình 204 người dân Huế. Trong hồi ký Giải Khăn Sô Cho Huế, tác giả Nhã Ca đã kể về tội ác giết bạn của cẩu tặc Nguyễn Đắc Xuân như sau: “Nguyễn Đắc Xuân, một sinh viên Huế. Thập niên 60 trong phong trào thanh niên sinh viên bị Việt Cộng nằm vùng giật giây, Nguyễn Đắc Xuân làm thơ, tranh đấu, rồi bỏ vào khu theo Việt Cộng. Để rồi MÙA XUÂN 1968 theo Việt Cộng trở lại Huế có mặt trong những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loạt người dân Huế với tội “phản cách mạng”. Đích thân Xuân đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích với Xuân từ trước, ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Nguyễn Đắc Xuân, tên Tý, dơ cái băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Nguyễn Đắc Xuân:

– Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi mà. Cách mạng muôn năm… Hồ chủ tịch muôn năm…

Nhưng mặc Tý năn nỉ, hoan hô, Nguyễn Đắc Xuân vẫn lạnh lùng nổ súng vào người bạn nhỏ của mình không chút đắn đo…”.

Mấy năm trước đây, Nguyễn Đắc Xuân đã viết bài “Nguyễn Đắc Xuân Đọc Hồi Ký Nhã Ca” để phản bác mọi cáo buộc tội giết dân, giết bạn của y. Trong đó có đoạn như sau: “…bà đã biết rõ không có chuyện tôi giết người, không có chuyện tôi ngồi xử án ai vậy tại sao bà còn hạ bút viết trong hồi ký những điều ác nhơn đến như thế? Nếu bà sống với tôi cùng trong một nền pháp luật tôi sẽ đưa bà ra tòa về tội vu khống”. (Nguyễn Đắc Xuân đọc hồi ký Nhã Ca. lethieunhon.com).

Thế nhưng, từ Houston, tác giả Bằng Phong Đặng Văn Âu, xưa là bạn “ngồi cùng bàn, cùng lớp” của Nguyễn Đắc Xuân, đã gửi emails qua lại với Xuân. Hai bên trao đổi quan điểm lập trường thẳng thắn với nhau. Trong thư thứ 2 viết ngày 14.01.2011, tác giả Đặng Văn Âu nói với Nguyễn Đắc Xuân:

“Này Nguyễn Đắc Xuân. Lẽ ra mày phải tỏ ra ăn năn, hối hận về việc mày gây tang tóc cho đồng bào ở Huế để nghiệp chướng của mày vơi đi. Mày đã không làm, mày lại càng gây thêm nghiệp chướng. Mày muốn được người ta gọi là nhà sử học, nhà Huế học phải không? Cộng sản là một tuồng nói dối từ trên xuống dưới, ai dám nói thật thì bị bỏ tù. Mày có đủ cái dũng để viết SỰ THẬT không, mà đòi viết sử?… Nguyễn Đắc Xuân à! Tao không thèm chửi mày đâu! Mày là thứ cộng sản tép riu. Mang tiếng giết bạn bè (Trần Mậu Tý) mà mày chỉ được cộng sản thí cho cái chức hội viên Hội Văn Nghệ Sĩ Thừa Thiên thì danh giá gì?! Hãy sám hối đi! Đừng huyênh hoang cái giọng “chưa biết con ngựa nào tới đích”, nghe lố bịch lắm! Những “trí tuệ hàng đầu” còn chưa biết đàng trước hình thù cái đích ra sao. Cỡ mày mà đòi thách thức thì chú Ba Trương Tấn Sang lên làm Chủ Tịch Nước cũng chẳng có gì lấy làm lạ!” (danchimviet.info).

TỘI ÁC CỦA LLHSSVGP HUẾ

Trước khi tấn chiếm Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968, để chuẩn bị cho công tác tạm quản thành phố này, Cộng sản đã lập ra cái gọi là Lực Lượng Học Sinh Sinh Viên Giải Phóng Huế, thuộc Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Đứng đầu là:

Gs. Lê Văn Hảo: Chủ tịch, kiêm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách Mạng Thành phố Huế; Thích Đôn Hậu: Phó Chủ tịch; cẩu tặc Hoàng Phủ Ngọc Tường: Tổng Thư ký; Nguyễn Đắc Xuân: Phụ trách LLHSSVGP Huế, kiêm Trưởng Đoàn Thanh niên Võ trang An Ninh bảo vệ Khu phố; Đào Thị Xuân Yến tức Bà Tuần Chi: Phó chủ tịch Ủy Ban Nhân dân Cách Mạng Thành phố Huế. Ngoài ra còn có những thành viên cốt cán như: Tôn Thất Dương Tiềm, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đóa và con gái là Nguyễn Thị Đoan Trinh, v.v…

Chính bọn học sinh, sinh viên trong LLHSSVGP Huế đã hết sức hung hăng trong việc chỉ điểm giúp phỉ quân VC lùng bắt và giết hại các bạn học của mình. Sau này, khi khai quật những mồ chôn tập thể, người ta đã tìm thấy nhiều nạn nhân là học sinh, sinh viên của Huế. Chẳng hạn như bọn chúng đã dắt bộ đội CS vào nhà thờ Phủ Cam và nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, rồi gọi tên các sinh viên theo một danh sách và bắt họ mang đi biệt tăm. Sinh viên Lê Hữu Bôi, cựu Chủ tịch Tổng hội SVSG về Huế ăn Tết cũng bị giết trong dịp này.

Trong bài Mậu Thân Huế, Dân biểu Nguyễn Lý Tưởng thuật lại như sau: “Có hơn 300 người đã bị bắt trong đó có Lê Hữu Bôi, Lê Hữu Bá… hai người nầy từ Nam Giao chạy về Phú Cam hy vọng nơi đây không có VC. Họ đã trốn trong nhà thờ để tránh bom đạn. Những người Phú Cam bị bắt, bị giết tập thể tại khe Đá Mài thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc quận Nam Hòa, Thừa Thiên. Xác chết nằm dưới khe, thịt thối rữa bị nước cuốn trôi đi, chỉ còn sọ và xương lẫn lộn. Tháng 10-1969, sau gần hai năm mới tìm được chỗ đó. Thân nhân đến nhận các dấu vết như thẻ căn cước bọc nhựa, quần áo, đồ dùng, tràng hạt, tượng ảnh. Trong số các di vật nầy có thẻ căn cước của Lê Hữu Bôi (Bôi là Chủ Tịch Tổng Hội cẩu tặc Sai gòn, năm 1963 nổi tiếng qua phong trào tranh đấu của Phật tử chống TT. Ngô Đình Diệm). Có những em học sinh bị bắt trong nhà thờ Phủ Cam, cũng bị giết chết tập thể bằng đại liên, bằng mìn tại Khe Đá Mài như Bùi Kha (16 tuổi), Phan Minh (16 tuổi), Nguyễn Duyệt (17 tuổi), v.v… (Nguyễn Lý Tưởng. Mậu Thân Huế. Những Hành Động Dã Man của Việt Cộng. toquocvietnam.org).

Bạch Diện Thư Sinh

Đăng tải tại Đặc Biệt | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ Ngô Minh Hằng về Thảm sát Mậu Thân

HUẾ ƠI BAO GIỜ RỬA ĐƯỢC HỜN OAN?

HUẾ ƠI! BAO GIỜ RỬA ĐƯỢC HỜN OAN?

(Tưởng niệm 50 năm biến cố Tết Mậu Thân 1968-2018. Một nén
hương lòng tưởng nhớ Anh Linh Quân-Dân-Cán-Chính VNCH bị CS tàn sát tại miền Nam VN trong Tết Mậu Thân và là giọt lệ riêng cho Huế.)

Anh ơi, Anh ngủ đã lâu

Dậy nghe em kể nỗi sầu Việt Nam

Từ anh nhắm mắt hờn oan

Là em suối lệ chan chan đường trần

Mình đang vui Tết Mậu Thân

Mừng nhau thêm tuổi, môi gần bên môi

Bỗng đâu đạn xé ngang trời

Bỗng đâu người đến trói người đem đi…

Đất trời ngút lửa âm ty

Thịt rơi máu đổ hiểm nguy tứ bề

Thương anh gan ruột não nề

Chờ anh không thấy anh về…giờ đây…

Em ôm một nắm xương gầy

Từ mồ tập thể chất đầy hờn oan

Anh ơi Gia Hội, Từ Đàm

Xuân Đại, Phú Thứ, Phủ cam, Đá Mài

Mậu Thân đau vết thương dài

Vòng tang chẳng kín thi hài Huế ơi…

Em kêu không thấu đến trời

Kìa, sao anh chẳng một lời cùng em?

Hai tay ôm nắm xương mềm

Em bơ vơ quá trên thềm cát nâu…

Huế buồn hằn vết thương sâu

Bao nghìn thi thể, bao đầu trắng tang

Con thơ đôi mắt ngỡ ngàng

Nhìn di ảnh bố hoang mang, nghẹn ngào

Anh đi, đi dễ thế sao

Ngày xuân bỗng hóa máu đào, biển dâu

Anh đi đâu, anh về đâu

Dậy nghe em nói đôi câu đã nào

Anh đi không kịp vẫy chào

Dã tâm, người đẩy anh vào vô minh!

Ta còn đây đoạn đường tình

Anh ơi, ai bắt đôi mình lìa nhau ?!

Ai đem cán cuốc đập đầu

Ai xô anh xuống hố sâu anh đào…?

Ngày xuân hồng giấc chiêm bao

Huế ơi ai buộc tang vào mùa Xuân !?

 *

Cũng ai, nay lại bất nhân

Mừng ngày chiến thắng Mậu Thân hở Trời !

Năm mươi năm lệ vẫn rơi

Đảng mừng ngày đảng giết người Việt Nam !!!

Huế ơi, Cồn Hến, Phủ Cam

Bao giờ rửa được hờn oan cho người ???

Ngô Minh Hằng

MẬU THÂN, VẾT THƯƠNG THẾ KỶ

(Tưởng niệm 40 năm biến cố Mậu Thân)

Bốn mươi năm trước, một mùa xuân

Khắp nẻo thôn xa đến phố gần

Dân dã nôn nao mong hưởng Tết

Lính chờ hưu chiến, phút dừng quân

*

Hỡi ơi, Xuân ấy có đâu ngờ

Súng nổ điên cuồng, nát giấc mơ …

Thành phố hoang tàn theo pháo giặc

Mùa xuân tắm máu giữa giao thừa !!!

 *

Tại sao tàn nhẫn giết dân tôi ?

Hưu chiến vì đâu máu đỏ trời !

Tập thể một mồ, ngàn xác chết

Xác già, xác trẻ, xác nằm nôi !!

 *

Mùa Xuân sao nỡ giết dân tôi ?

Cả triệu sinh linh chết ngậm ngùi

Từ trẻ đợi giờ khoe áo mới

Đến già đang ước bữa cơm vui ..

 *

Mùa Xuân, ai đã giết dân tôi ?

Một nửa quê hương khói lửa vùi

Ai pháo vào dân, vào bịnh xá

Vào trường, vào chợ, viện mồ côi ?!

 *

Ôi tang thương ấy bởi vì đâu

Sao chọn ngày xuân dựng thảm sầu ?!

Để mãi Mậu Thân dòng uế sử

Cho đời nguyền rủa đến ngàn sau !

 *

Xuân này là đã bốn mươi xuân

Nỗi hận niềm đau vẫn bội phần

Hằn dấu vết thương, đen thế kỷ

Mậu Thân, tội ác của vô thần !

*

Bao nhiêu oan khuất vẫn còn đây

Hận bốn mươi năm chửa lấp đầy

Chẳng lẽ cúi đầu than khóc mãi

Quê hương đang đợi cuộc vần xoay …

*

Hỡi nào toàn quốc đứng vùng lên

Nhân bản, yêu thương dựng lại nền

Dân chủ, công bình xin kiến tạo

Ngàn đời hiển hách giống Rồng Tiên

*

Đừng ngần ngại nữa, góp bàn tay

Cứu chính đời ta khỏi đọa đày

Và cứu dân lành trong đáy ngục

Bạo quyền lừa mị bấy lâu nay …

 *

Cứu quê cho hết vặn mình đau

Và Mậu Thân xưa bớt hận sầu

Tiễn những hồn oan về cõi tịnh

Cờ Vàng công chính để muôn sau …

Ngô Minh Hằng

CHO EM VÀ MÙA XUÂN ĐAU THƯƠNG
MẬU THÂN MỘT CHÍN SÁU TÁM

Khi xưa xuân về trời xanh mây cao

Chim muông ân cần trao nhau lời chào

Muôn hoa tưng bừng lòng dâng niềm vui

Quê hương vào xuân cờ bay vàng trời

                         *

Hồn xuân bao la, hân hoan vầng dương

Tim non chan hòa lời yêu chân phương

Tình xuân êm đềm trong như trăng ngàn

Và em ngây thơ hồn nhiên nồng nàn

                         *

Ôm hoa theo chồng thuyền em vu qui

Và tôi chinh nhân xa xôi biên thùy

Rồi mùa xuân buồn trên quê hương ta

Vì ai xâm lăng làm đau sơn hà ….

                         *

Ai làm mùa xuân hờn oan mênh mông

Xương vùi rừng sâu, xương phơi trên đồng

Mồ nằm bên mồ, mồ chôn trăm thây

Mồ bên đường làng, mồ trên nương cày

                         *

Tôi nghe tin buồn em ôm con thơ

Tìm nơi bình yên cho con, nào ngờ

Người ta điên cuồng và đau thương thay

Em trên đường quê, thây phơi bao ngày !!!

                         *

Ôi con tim nào em ơi không đau

Khi em ra đi và quê ta sầu

Ôi trời gần không, sao người tàn hung

Người xô con người vào nơi muôn trùng

                           *

Hôm nay xuân về, nhìn xuân, đau thương

Thương em vô vàn và thương quê hương

Bao mùa xuân buồn nương thân quê người

Tôi mơ ngày về huy hoàng em ơi

                         *

Và mơ san bằng xuân nào chia ly

Vì ai da vàng nhưng tim màu chì

Cho mùa xuân về vơi đi đau thương

Cho môi em cười, quên bao oan hờn …

Ngô Minh Hằng

Đăng tải tại Đặc Biệt

Tưởng niệm 50 năm Thảm sát Mậu thân – Lữ Giang

Mậu Thân Huế:
Tại sao phải thảm sát?

Lữ Giang

Trong phần trước chúng tôi đã trình bày rõ Mỹ biết âm mưu của Cộng quân là huy động lực lượng chiếm Huế để làm thủ đô của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nên Mỹ đã huy động một lục lượng lớn, chờ Cộng quân rơi vào tử địa là tiêu diệt. Trong bài này, chúng tôi sẽ trình bày qua về tình trạng thảm sát ở Huế và phân tích lý do tại sao Hà Nội phải ra lệnh tàn sát.

THỰC HIỆN VIỆC THẢM SÁT

Trước khi Cộng quân mở cuộc tấn công Huế, các thành phần ly khai bỏ đi theo Việt Cộng từ năm 1966 và các tên nằm vùng đã lập sẵn danh sách những người mà chúng cho rằng cần phải thanh toán. Vì thế, khi mới vào Huế, chúng đã mở cuộc lục xét khắp nơi để tìm những người này.

 Image result for images from thảm sát mậu thân năm 1968

Ngoài những người có tên trong “sổ đen”, các toán an ninh đi lùng bắt các thành phần bị coi là Việt gian, ác ôn hay phản động như công chức, binh sĩ VNCH, cảnh sát, nhân viên sở Mỹ, các thành phần đảng phái, người công giáo, v.v.

1.- Tại Thành Nội (Quận 1) và một phần khu Tả Ngạn (Quận 2).

Hoàng Nguyên giao việc thanh lọc và xét xử cho cho hai sinh viên là Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do tại sao họ bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết án tử hình sau khi bị dọa, qui chụp và kết tội. Một số bị xử tử ngay tức khắc.

Phiên tòa tại Thành Nội và khu Tả Ngạn chỉ kéo dài trong 2 ngày là xong, sau đó một chiến dịch khủng bố đã được phát động: Một người mở trộm radio nghe đã bị đưa ra bắn giữa đường phố để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị đưa ra bắn. Nguyễn Đọc đã bắn nhiều người trong đó có một bạn thân đồng lớp với anh ta, chỉ vì anh này không chịu hợp tác với y.

2.- Tại khu Gia Hội: Hoàng Nguyên giao Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường phụ trách.

Hoàng Phủ Ngọc Tường tốt nghiệp đại học Huế, đi dạy học và là một trong các lãnh tụï sinh viên Phật Giáo đấu tranh chống chính quyền VNCH năm 1966, sau đó Tường đi theo MTGPMN.

Chùa Theravada ở đường Võ Tánh được dùng làm trụ sở để các công chức và quân nhân VNCH đến trình diện,

Trường Trung Học Gia Hội của Dòng Mai Khôi (Phú Xuân) được dùng làm nơi giam giữ và xét xử các thành phần bị coi là Việt gian hay phản động. Theo Bác sĩ Elje Vannema, các phiên tòa ở đây đểu do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa.

Người đi bắt và bắn chết các nạn nhân là tên Diệu Linh, người Quảng Ngãi, làm nghề thầy bói và khoác cái áo Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Cuộc tàn sát tại đây được thực hiện rất bừa bải và tàn bạo, chẳng hạn như hai anh Nguyễn Ngọc Lộ và Nguyễn Thiết bị hạ sát chỉ vì làm nghề nghề dạy võ thất sơn thần quyền, bị cho là một bộ phận của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Hai anh đã bị chôn sống ngay trên con đường nhỏ rẽ vào Trường Trung Học Gia Hội sau khi bị đánh bằng cuốc vào đầu. Nghe nói vợ anh Lộ và ba cháu gồm hai gái một trai cũng bị giết tại nhà ở xã Phú Lưu.

Trong số những người bị giết tại Gia Hội, người ta thấy có các nhân vật sau đây: Ông Lê Văn Cư, Phó giám đốc cảnh sát quốc gia Vùng I và ông Phú (em vợ anh Cư), Quận Trưởng Quận 2; ông Từ Tôn Kháng, thiếu tá Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên; ông Hồ Đắc Cam và ông Kim Phát, Việt Nam Quốc Dân Đảng; ông Trần Văn Nớp, Trưởng Phòng Hành Chánh Ty Cảnh Sát Thừa Thiên. v.v.

Nguyễn Đắc Xuân là người tổ chức và lãnh đạo “Đoàn Thanh Niên Phật Tử Quyết Tử tại Huế năm 1966 để chống lại VNCH. Khi bị đánh bại, Xuân đã trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội “Công tác thanh niên” nhắm mục đích khuyến dụ các quân nhân VNCH và cảnh sát bị kẹt ở Huế ra trình diện.

Với quân nhân VNCH, Xuân thành lập “Đoàn Quân Nhân Sư Đoàn 1 ly khai” và bắt Đại Úy Nguyễn Văn Lợi, Tiểu Đoàn Phó Thiểu Đoàn 4, Trung Đoàn 2, mới từ Đồng Hà trở về ăn Tết làm Trưởng Đoàn. Sau đó, Xuân lập “Đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát”, bắt ép Quận Trưởng Hữu Ngạn là Nguyễn Văn Cán ra chỉ huy.

Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau, Bộ Tư Lệnh Quân Khu ra lệnh giải tán hai tổ chức này. Đột nhiên, ngày 18.2.1968, toán an ninh ra lệnh cho các công chức và quân nhân phải ra trình diện lần hai tại Trường Gia Hội rồi giữ lại và đem đi thủ tiêu luôn.

3.- Tại khu Hữu Ngạn (Quận 3)

Toán an ninh ở khu Tả Ngạn không lập tòa án để xét xử các nạn nhân như ở khu Thành Nội và khu Gia Hội. Tại đây, các nạn nhân bị bắt đều bị đưa về giam ở chùa Từ Đàm, bắt làm tờ khai và được thanh lọc rồi đưa đi thủ tiêu. Số nạn nhân ở khu vực này đông nhất vì gồm những người đến ẩn nấp trong khu Dòng Chúa Cứu Thế và nhà thờ chính tòa Phủ Cam.

Tại khu Dòng Chúa Cứu Thế: Khu Hữu Ngạn (tức Quận 3) do Nguyễn Mậu Hiên, bí danh Bảy Lanh đánh chiếm. Bảy Lanh là con nuôi của nhà thuốc bắc Thiên Tường tại chợ An Cựu. Hai con trai của nhà thuốc Thiên Tường là cán bộ Việt Cộng nằm vùng ở cơ quan Xây Dựng Nông Thôn, Vì thế, khi Bảy Lanh vừa làm chủ vùng An Cựu, ông Thiên Tướng và hai người con đã đi lùng bắt tất cả những công chức, quân nhân, cảnh sát, thành phần đảng phái… trong khu vực Dòng Chúa Cứu Thế.

Tiếp theo, chúng lùa khoảng 150 người đang ẩn trú trong Dòng Chúa Cứu Thế ra sân để thanh lọc. Chúng xét hỏi giấy tờ của từng người. Những ai có căn cước ghi là quân nhân hay công chức đều được đưa ra khỏi hàng ngay, trong đó có Thượng nghị sĩ Trần Điền.

Có khoảng 500 người trong khu vực này bị bắt đưa về chùa Từ Đàm. Về sau, cả ba cha con ông Thiên Tướng đều bị bắt.

Tại nhà thờ Phủ Cam: Nhà thờ này lúc đó chỉ mới được xây xong phần cung thánh và hai cánh tả hữu, nhưng có tường rất dày và trần được đúc bằng bê-ton cốt sắt, nên có thể che chở phần nào bom đạn. Do đó, có trên 3.000 người đã đến ẩn nấp tại đây. Khoảng 1 giờ đêm 7.2.1968, du kích và các toán an ninh đã vào lục soát nhà thờ, sau đó chúng bắt những người từ 15 đến 50 tuổi đứng lên, không phân biệt thành phần. Có khoảng 500 người thuộc lớp tuổi này. Chúng tuyên bố: “Các anh được đưa đi học tập 3 ngày rồi trở về.” Sau đó chúng dẫn những người này đi về chùa Từ Đàm và bắt làm tờ khai. Thỉnh thoảng chúng đưa một người ra gốc cây bồ đề trước sân chùa và bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa. Về sau, người ta đếm được có 20 xác.

Hai hôm sau, vào lúc trời tối, các toán an ninh gọi mọi người ra sân, lấy dây điện thoại trói ké lại, rồi dùng dây kẻm gai xâu 20 người lại một xâu, và dẫn đi về phía Nam Giao.

Ở bệnh viện, trò tương tự cũng đã diễn ra. Dân quanh vùng, đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, Cộng quân viện lý do chiến tranh sắp xẩy ra trong vùng nên ra lệnh cho dân chúng tập trung vào bệnh viện. Sau ba ngày, họ bảo đàn bà và trẻ con ngồi xuống, còn đàn ông đứng dậy. Sau đó, chúng đưa hai tên nằm vùng đến nhận diện. Hai tên này vừa mới được xổ tù khi Cộng quân chiếm thành phố. Một số người, trẻ có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính tòa Phủ Cam và từ đó họ được đưa lên chùa Từ Đàm.

Tất cả những người bị giam ở chùa Từ Đàm đểu được lần lượt dẫn đi về phía Tây Nam và hạ sát tại những nơi khác nhau, kể cả ở Khe Đá Mài, cách Huế khoảng 26 cây số. Theo tạp chí Time ngày 31.10.1969, trong số các nạn nhân bị giết tại đây có 398 người là giáo dân Phủ Cam. Cách giết người của Cộng quân cũng đặc biệt. Cộng quân ra lệnh cho những người bị bắt phải đào hố, nói là để làm hầm trú ẩn tránh bom đạn, hoặc để làm mương dẫn nước cho dân chúng cày cấy. Sau khi đào xong, Cộng quân trói thúc ké tay chân nạn nhân và quăng xuống hố rồi lấp đất lại. Có người cho rằng Cộng quân phải chôn sống như vậy vì sợ bắn sẽ gây tiếng động và để lộ mục tiêu.

CON SỐ NẠN NHÂN

Trong cuốn “Công và Tội”, ông Nguyễn Trân cho biết: “Về phía dân chúng, có 5.800 người chết, trong đó có 2.800 người bị Việt Cộng giết và chôn tập thể: 790 hội viên các Hội đồng tỉnh, thị xã và xã bị gán tội “cường hào ác bá”, 1892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, hằng trăm thanh niên tuổi quân dịch, một linh mục Việt (Bửu Đồng), hai linh mục Pháp, một bác sĩ Đức và vợ, và một số người Phi Luật Tân.”

Trong “Encyclopedia of the Viet Nam War”,  David T. Zabecki ghi nhận rằng số thi hài nạn nhân tìm được trong các mồ chôn tập thể ở Huế là 2.810 người và hàng ngàn người bị mất tích.

Trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” (Vintage Press, New York, 1976), Bác sĩ Elje Vannema, người có mặt tại Huế trong biến cố Tết Mậu Thân, cho biết theo tài liệu kiểm kê được qua 22 mồ tập thể, số nạn nhân bị Cộng quân giết là 2.326 người, chia ra như sau:

Trường Gia Hội: 203 người; Chùa Theravada [Gia Hội]: 43; Bãi Dâu [Gia Hội]: 26; Cồn Hến [Gia Hội]: 101; Tiểu Chủng Viện: 6; Quận Tả ngạn: 21; Phía đông Huế: 25; Lăng Tự Đức và Đồng Khánh: 203; Cầu An Ninh: 20; Cửa Đông Ba: 7; Trường An Ninh Hạ: 4; Trường Văn Chí: 8; Chợ Thông: 102; Lăng Gia Long: 200; Chùa Từ Quang: 4; Đồng Di: 110; Vinh Thái: 135; Phù Lương: 22; Phú Xuân: 587; Thượng Hòa: 11; Thủy Thanh – Vinh Hưng: 70; Khe Đá Mài: 428.

Trong cuốn “Viet Cong Strategy of Terror” (tr. 23 đến 29) Giáo Sư Douglas Pike cho biết qua vụ Tết Mậu Thân ở Huế, có khoảng 7.600 nạn nhân của Cộng Sản, trong đó 1.946 người bị mất tích.

TẠI SAO PHẢI TÀN SÁT?

Những sự kiện cụ thể chúng tôi vừa trình bày trên cho thấy:

(1) Việc chiếm Huế làm căn cứ địa cho MTGPMN là một quyết định được Hà Nội nghiên cứu kỹ càng và ra lệnh cho Khu Ủy và Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế thi hành. Cán bộ thi hành cũng đã được huấn luyện trước. Do đó, không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương quyết định tàn sát mà không có lệnh từ trung ương.

(2) Đa số các cuộc thảm sát đã diễn ra trong thời gian từ 2 đến 12.2.1968, tức trong thời gian Cộng quân còn chiếm đóng Huế. Các nạn nhân thường được kiểm tra hay xét xử rồi mới giết. Rất nhiều mộ tập thể đã được tìm thấy ngay trong thành phớ Huế, nhất là tại khu Gia Hội. Điều này cho thấy không phải vì bị vướng chân khi rút quân nên Cộng Sản mới tàn sát tâp thể để có thể rút nhanh như một số người đã biện hộ cho Cộng Sản.

(3) Đến tối 24.2.1968 Cộng quân mới ra lệnh rút quân toàn bộ khỏi Huế. Tài liệu của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên Huế nói rằng có 23.702 tên quân địch, trong đó có 8.000 Mỹ, đã bị diệt, bắt sống và ra hàng (tr. 153). Như vậy số quân nhân Quân Lực VNCH và Mỹ đã bị tiêu diệt hoặc bắt sống lên đến khoảng 3 sư đoàn, trong khi đó số quân VNCH và Mỹ được dùng để tái chiếm Huế chưa đến 2 sư đoàn! Giả thiết tài liệu của Cộng quân là đúng và số người đã bị họ bắt đi theo đã bị giết tập thể để khỏi bị vướng chân…, vậy những người này đã được chôn ở đâu? Các cuộc tìm kiếm sau Tết Mậu Thân không cho thấy có các quân nhân VNCH và Mỹ được chôn trên đường rút quân của Cộng quân.

Chỉ có một trường hợp bị bắn khi Cộng quân rút lui là trường hợp những thanh niên bị bắt gia nhập quân MTGPMN. Những thanh niên không chịu đi theo đều bị bắn tại chỗ. Tại Gia Hội, người ta khám phá ra xác của 18 thanh niên bị bắn chết vì không chịu đi theo. Có khoảng 600 thanh niên vì sợ bị bắn phải đi theo họ.

Tóm lại, lập luận cho rằng các nạn nhân đã bị tàn sát vì làm vướng chân Cộng quân khi rút lui là hoàn toàn láo phét. Đảng CSVN đã duy trì kỷ cương rất chặt chẽ trong khi hành quân nên không thể có chuyện các cấp chỉ huy địa phương tự ý ra lệnh tàn sát tập thể như một số người đã biện minh cho Hà Nội. Phải có lệnh của trung ương, các cán bộ cấp dưới mới làm như vậy. Nhưng vấn đề được đặt ra là: Tại sao Đảng CSVN đã đưa ra quyết định tàn sát tâp thể như thế?

Image result for images from thảm sát mậu thân năm 1968

Có tác giả cho rằng sở dĩ Hà Nội đã đưa ra quyết định tàn sát tập thể vì lý do an ninh. Hà Nội muốn chiếm Huế và giữ Huế lâu dài như là một căn cứ địa của MTGPMN. Do đó, để bảo vệ an ninh trong vùng chiếm đóng, Hà Nội đã ra lệnh thanh toán tất cả những thành phần bị coi là cho thể gây nguy hại cho an ninh như tuyên truyền chống đối, quấy rối, làm nội ứng, hình thành các nhóm võ trang chống lại lực lượng chiếm đóng, v.v.

Giả thiết thứ hai là Đảng CSVN muốn tạo sự kinh hoàng trong quần chúng để mọi người hoảng sợ và tuân phục. Đây là chính sách mà Lénin đã áp dụng tại Liên Sô trước đây.

Trong quyển “The Unknown Lenin“, ông Richard Pipes, Giáo sư Sử Học Nga thuộc Harvard University, ghi nhận rằng yếu tố lạnh người nhất là Lenin đã ra lệnh “tạo sự kinh hoàng” trong quần chúng trên toàn quốc. Hồi đầu tháng 9/1918, Lenin viết: Cần thiết và khẩn cấp chuẩn bị cho sự kinh hoàng, một cách bí mật“. Tháng 8/1918, Lenin chỉ thị cho bọn cầm quyền tỉnh Penza phải treo cổ ít nhất 100 người, một cách công khai. Lénin truyền lệnh: Hãy thực hiện chuyện này bằng một phương cách mà người ta sẽ thấy, từ xa hàng trăm dặm, run sợ, biết đến, và gào thét. Họ bị treo cổ, và sẽ treo cổ đến chết bọn địa chủ hút máu“.

Đảng CSVN cũng bắt chước đường lối này của Lénin và cho áp dụng tại Huế trong Tết Mậu Thân, khi họ nghĩ rằng Cộng quân có thể chiếm giữ Huế lâu dài. Có lẽ giả thiết này đúng hơn cả.

Ngoài những tiêu chuẩn thanh toán mà Hà Nội đã đưa ra, các nhóm Phật Giáo đấu tranh chống VNCH bỏ đi theo MTGPMN từ năm 1966, khi trở lại đã đi tìm và thanh toán những người trước đây không đồng ý hay chống lại chủ trương của họ, đặc biệt là những người Công Giáo.

Nhưng Hà Nội đã có nhận định sai lầm về quyết tâm của Quân Lực VNCH và sự hưởng ứng của quần chúng Phật tử ở Huế. Quân Lực VNCH và đồng minh đã xử dụng hỏa lực tối đa, bất chấp những sự hư hại cho cố đô, để đánh bật Cộng quân ra khỏi thành phố, còn quần chúng Phật tử chỉ có một số nhỏ theo họ. Do đó, quyết định chiếm Huế làm căn cứ địa đã thất bại.

Điều tai hại là nhà cầm quyền Hà Nội đã nhận ra rằng trong cuộc đấu tranh cướp chính quyền năm 1966, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đã kích động lòng hận thù Thiên Chúa Giáo như là động lực đấu tranh. Do đó, sau khi chiếm Huế, Cộng quân đã xử dụng các thành phần thuộc “Đoàn Thanh Niên Phật tử Quyết tử” của Giáo Hội Ấn Quang đã đi theo họ, quay trở lại làm lực lượng tiên phong trong vụ tàn sát, đặc biệt nhắm vào những người Công giáo, công chức, cảnh sát và quân nhân VNCH. Đây là vấn đề sẽ được chúng tôi trình bày trong một bài khác.

Ngày 15.2.2018

Lữ Giang

Đăng tải tại Đặc Biệt

LĐH: Bị Contract Killer Giết?

Kính thưa Quý vị,

Kính gửi đến Quý vị bài viết dưới đây với ước vọng được sự quan tâm, chia sẻ và phổ biến. Cũng xin thưa, tất cả bài vở, ý kiến, hình ảnh, được SGT đăng tải và phổ biến qua mọi hình thức, đều được Công Ty Anti-Slapp Now Pty. Ltd. cố vấn, kiểm duyệt, chấp thuận và hoàn toàn chịu trách nhiệm. Mọi khiếu nại, tranh tụng, vui lòng coi “Thông Báo Trách Nhiệm Pháp Lý” trên trang web Saigon Times (Tiếng Việt – Tiếng Anh). Nếu Quý vị nhận được email này hơn một lần, xin thông cảm; nếu phiền lòng, xin thứ lỗi và email về huunguyen@saigontimes.org.

Trân trọng,
Hữu Nguyên

Arthur Kelekolio – “Contract Killer”
Giết LS Lê Đình Hồ?

TS Jenny Cartwright: Tại Úc có hàng trăm vụ giết mướn… giá từ $500 đến $500,000 – Bảo đảm “complete the job”!!!

Hữu Nguyên tổng hợp

Hình trên bên trái: Bị cáo giấu mặt trong xe cây khi bị cảnh sát câu lưu. Bên phải: LS Lê Đình Hồ (trên) và bị cáo (dưới). Photo: dailytelegraph.com.au

SYDNEY: Sáng 14/2/2018, tại Sydney’s Central Local Court, cảnh sát đã chính thức truy tố Arthur Kelekolio, 38 tuổi, tội đã bắn chết LS Lê Đình Hồ, vào ngày 23/1 vừa qua. Bị cáo đã không xuất hiện trước toà, nhưng được luật sư Adam Houda đại diện. Quan toà không cho phép bị cáo tại ngoại, và tuyên bố, bị cáo sẽ phải có mặt trong phiên xử kế tiếp, ngày 11/4/2018.

Một ngày trước đó, sáng 13/02/2018, Strike Force Eugene – lực lượng cảnh sát đặc trách điều tra vụ sát hại LS Lê Đình Hồ – đã bắt giữ Arthur Kelekolio tại phi trường quốc tế Sydney, trong lúc y lên máy bay đi Bali, Nam Dương.

Hiện chưa biết, Arthur Kelekolio là tên thật hay tên giả, nhưng mang họ Kelekolio, phần đông là người Hạ Uy Di.

Nguồn tin không chính thức tin rằng, Arthur Kelekolio là tay giết mướn chuyên nghiệp, nhiều kinh nghiệm và bản lãnh, nên trong suốt nhiều giờ bị cảnh sát thẩm vấn, y đã từ chối khai báo.

Luật sư Adam Houda, người đã 3 lần thưa cảnh sát NSW, “bắt, giữ, thẩm vấn ông” trái pháp trong 11 năm, và đã có lần được bồi thường thiệt hại $145,000. Photo: James Brickwood

Adam Houda, đại diện cho bị cáo, cũng là một luật sư nổi tiếng, chuyên đảm trách các vụ án hình sự từ năm 1999, cùng thời gian với LS Lê Đình Hồ. Đặc biệt, cho đến cuối năm 2011, LS Adam Houda đã từng thưa cảnh sát NSW 3 lần vì đã “bắt, giữ, thẩm vấn” ông trái pháp trong 11 năm, và đã có lần ông được bồi thường thiệt hại $145,000.

Tiến sĩ Jenny Cartwright, sau 13 năm đặc trách nghiên cứu về “contract killers” của Viện Tội Phạm Học Úc Đại Lợi (Australian Institute of Criminology), đã cho biết: Trong thời gian ba thập niên qua (tính đến 2016), tại Úc đã có hàng trăm vụ giết mướn, với số tiền trung bình $16,500 cho một vụ, trong đó có những vụ rẻ nhất là $500 cho đến $500,000, bảo đảm “complete the job”. Tiến sĩ Jenny Cartwright cũng thừa nhận, hàng chục vụ án mạng do “contract killers” gây ra, cho đến nay hung thủ cũng như kẻ chủ mưu, vẫn còn tại đào.

Việc Arthur Kelekolio bị bắt giữ và truy tố về tội giết LS Lê Đình Hồ, chỉ trong thời gian 3 tuần sau khi xảt ra án mạng, rõ ràng là một thành công quan trọng của cảnh sát NSW, trong việc thực thi công lý. Tuy nhiên, quan trọng hơn, những câu hỏi then chốt cần phải được trả lời: VÌ SAO HUNG THỦ GIẾT LS LĐH? Và nếu hung thủ là kẻ giết mướn, AI LÀ KẺ CHỦ MƯU ĐÃ MƯỚN HUNG THỦ?

Chắc chắn, khi nào những câu hỏi quan trọng này chưa được trả lời một cách thoả mãn và đầy đủ, CÔNG LÝ VẪN CÒN BỊ CHÌM ĐẮM, TỘI ÁC VẪN CÒN TIẾP TỤC TUNG HOÀNH, TÍNH MẠNG CỦA NGƯỜI LƯƠNG THIỆN VẪN CÒN BỊ ĐE DOẠ!

Hữu Nguyên

Đăng tải tại Đặc Biệt | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tưởng niệm 50 năm Mậu Thân – HLH

Hồi ký Tết Mậu Thân ở Huế

Hoàng Long Hải

Bài 1 “Tấn Công Bất Ngờ”

Trước khi bắt đầu niên khóa 1967-68, tôi dọn về ở số 11 đường Phạm Hồng Thái, Huế. Nhà nầy gần ngã tư Nguyễn Tri Phương và Phạm Hồng Thái.

Trước mặt nhà tôi là doanh trại của đại đội Cảnh Sát Dã Chiến (CSDC) thuộc Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế. Toàn bộ khu vực nầy, từ phía trước nhà tôi đến đường Duy Tân (đường từ đầu cầu Trường Tiền về An-Cựu), phía trước trường trung học Nguyễn Tri Phương, phía tòa Khâm Sứ cũ sát bờ sông, là khu quân sự gồm khách sạn Thuận Hóa, tức MAC-V, “Bản doanh Phan Sào Nam” tức Tiểu Khu Thừa Thiên- Huế, Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế.

Khoảng một năm nay, đây là mục tiêu pháo kích của Việt Cộng. Có điều đáng nói là Việt Cộng pháo kích trúng mục tiêu thì ít mà trật ra ngoài thì nhiều. Đã có vài nhà dân trúng đạn, có người chết, bị thương. Vì vậy, khi thấy tôi dọn về đây, vài người bạn đến chơi, cằn nhằn: “Dọn về đây chi cho nguy hiểm.” Tôi nói đùa: “Khi nào nghe pháo kích khách sạn Thuận Hóa thì tới đưa tao đi nhà thương.”

Đêm mồng một tết Mậu Thân, tức là đêm 30 tháng 1 năm 1968, Việt Cộng pháo kích trật mục tiêu thật, và trúng ngay nhà tôi.

Tôi đang ngủ với đứa con gái lớn, 6 tuổi, thì giật mình vì những tiếng nổ lớn, hơi xa xa và nghe tiếng đạn đi. Trong phút chốc, tôi nghĩ: “Chết cha! Đạn đang tới ngay mình”. Tôi từng chạy tản cư năm 1946-47, có ít nhiều kinh nghiệm về súng đạn, mặc dù hồi ấy tôi mới 10 tuổi. Hễ đạn “cà-nông”, nghe tiếng đạn đi thì yên tâm. Đạn sẽ nổ ở xa. Còn tiếng đạn súng cối réo bên tai là nổ ngay chính chỗ của mình.

Và rồi viên đạn nổ ngay phía ngoài bức tường gạch dưới chân giường tôi. Tiếng nổ làm rung chuyển cả ngôi nhà. Nhà lợp ngói liệt nên khi ngói vỡ, cát từ trên mái tuôn xuống rào rào. Cửa trước bị giựt tung ra, thấy rõ bên ngoài. Ngoài đó đạn vẫn tiếp tục nổ ở sân trước, ngoài đường lộ, chớp sáng lóe lên, cảnh tượng ngoài ấy trông rõ lắm nhưng tắt đi rất nhanh. Điện bị cắt.

Tôi ngồi dậy, tung chăn. Đứa con gái tôi cũng dậy. Tôi nói với con: “Con vô hầm đi.”

Vì vùng nầy, như đã nói, thường bị pháo kích nên tôi có làm một cái hầm bằng bao cát ở căn phòng trống giữa phòng khách và nhà bếp.

Con tôi chạy đi. Tôi đi qua phía giường vợ tôi, đặt ở phía sau cái tủ đựng áo quần, tủ có kính soi. Tôi nghe có tiếng vợ tôi kêu cứu hơi xa xa, mơ hồ, có lẽ do cát đổ xuống phủ đầy chăn đắp. Thêm nữa, cái tủ đựng áo quần bị hất tung lên, đè lên vợ tôi, lúc ấy đang có bầu khoảng tám tháng, cùng đứa con gái thứ nhì và đứa con trai xuống dưới.

Không hiểu sao lúc đó tôi mạnh lắm. Nhờ ánh sáng đạn pháo kích đang nổ nên thấy rõ cảnh vật, tôi cần hai cái chân tủ hất sang một bên, kéo chăn và kéo vợ cùng hai đứa con ra. Chợt ngó lại, tôi thấy đứa con gái đầu thay vì chạy vào hầm, lại đang đứng sát bên chân tôi. Tôi hỏi: “Răng không vô hầm đi?” Con bé trả lời, khá rõ: “Con xệ (sợ) lắm!”

Vừa khi ấy thì ba đứa ở: Con Thơ lớn nhứt, đã 20 tuổi. Hai đứa kia nhỏ hơn, một đứa tên Lụt, em ruột con Thơ và con Nguyệt, nhỏ nhứt, ngủ dưới nhà bếp, chạy lên.

Con Thơ nói: “Con vô hầm rồi, không chộ (thấy) cậu mợ nên chạy ra ni.” Tôi bảo con Thơ dắt mấy đứa nhỏ vào hầm, tôi dẫn vợ tôi chạy theo.

Suốt trong thời gian ấy đạn pháo kích vẫn nổ ở sân trước và sân bên hông nhà, không trúng nhà tôi nữa. Vậy mà cả gia đình nhỏ của tôi không ai hề hấn gì, ngồi chen chúc trong cái hầm chật. Tôi ngồi phía ngoài, ngay cửa hầm.

Thằng con trai của tôi vẫn cứ khóc lè nhè từ nãy đến giờ. Tôi cứ ngỡ nó đau chân nên khóc.

Thằng bé mới hai tuổi, dễ thương và rất đẹp trai. Trước Tết mấy hôm, anh Ky, người cháu của vợ tôi, đang học y khoa ở Huế, đến chơi, thấy thằng bé kháu quá bèn bỏ nó lên xe vélo chở đi lòng vòng. Được một lúc thì thằng bé thọc chân vô căm xe, sưng vù, tôi phải đem đi bệnh viện bó bột và chích thuốc. Từ bữa đó đến giờ, vì cái chân bột nên thằng bé hay khóc. Không ngờ một lúc sau, vợ tôi nói: “Anh! Thằng cu Bảo bị thương, máu chảy sau đầu.” Con Thơ thường nhóm bếp nên bao giờ cũng thủ sẵn một cái bật lửa trong túi, lấy ra bật lên cho vợ tôi xem chỗ thằng bé bị thương. Xong, vợ tôi nói: “Rách một đường sau đầu, hết ra máu rồi, chắc không can chi!”

Nghe vợ giải thích, tôi yên tâm.

Bây giờ thì hết pháo kích nhưng đạn súng nhỏ nổ rền trời như người ta đang đốt pháo vậy. Tiếng đạn nổ lốp bốp nghe lạ tai, không phải thứ đạn như Garant M-1 mà tôi có bắn thực tập hồi còn học Cao Đẳng Quân Sự. Thỉnh thoảng, tiếng lựu đạn nổ chen vào như người ta đốt pháo giây có kèm theo pháo tống vậy. Lựu đạn nổ gần lắm, ngay phía ngoài cửa trước nhà tôi.

Nhờ cái hầm nằm ở căn phòng chếch qua một bên phòng khách nên không can gì, chỉ mỗi khi lựu đạn nổ thì cái hầm nhỏ của tôi rung rinh dữ dội. Sáng ra, tôi mới biết là Việt Cộng núp trong sân nhà tôi, tấn công vào cái “lô-cốt” (blockhaus) của Cảnh Sát Dã Chiến bên kia đường. CSDC phản công, bắn M-79 vào ngay sân nhà tôi mới ra cớ sự như vậy.

Súng nổ ran từng chặp rồi nghỉ khoảng nửa tiếng. Nửa giờ sau, có ba phát súng lệnh, súng đạn lại nổ rền, đợt tấn công mới lại bắt đầu. Lựu đạn của CSDC lại bắn vào sân nhà tôi.

Sau khoảng vài ba đợt tấn công thì có tiếng tù và thổi.

Con Thơ nói:

– “Rứa là họ rút lui đó cậu mợ.”

– “Răng mi biết?” Tôi hỏi.

Con Thơ giải thích:

– “Dưới làng con đánh dau (nhau), khi mô (nào) thổi tù và hay thổi còi là họ rút lui.”

Quả thật Việt Cộng rút. Trời sáng dần, mờ mờ.

Tôi bỗng nghe có tiếng người la to phía sân trước, hướng về phía trại CSDC:

– “Đừng bắn nữa nhé! Đừng bắn nữa nhé, tôi ra hàng nhé!”

Có tiếng mấy người lính CSDC bên kia đường la to, đáp lại:

– “Bỏ súng xuống! Bỏ súng xuống.”

Tôi cố lắng nghe tiếng người ra hàng để biết họ là người xứ nào. Đây là tiếng Bắc, không rõ tỉnh nào, nhưng ít ra cũng từ Thanh Hóa đổ ra. Sở dĩ tôi chú ý việc nầy vì năm ngoái, quân Việt Cộng tấn công vào thị xã Quảng Trị, thất bại, họ rút lui. Con đường tiến vào và rút lui là con đường hẽm phía sau nhà tôi. Ông anh tôi sợ Việt Cộng leo lên núp trên mái nhà, nghe họ vừa di chuyện vừa nói với nhau.

Tôi hỏi:

– “Họ nói giọng gì?”

Anh tôi cười, trả lời:

– “Bùi Xuân Lục.”

Bùi Xuân Lục là tên một người rể của dì tôi, quê ở Hà Tĩnh. Bà con bên ngoại tôi thường nhái giọng Hà Tĩnh để ghẹo anh ấy chơi. Tiếng Quảng Trị không nhẹ gì nhưng so với giọng Hà Tĩnh cũng còn đỡ hơn nhiều.

Thấy dứt tiếng súng, vợ chồng con cái chúng tôi ra khỏi hầm.

Việc trước tiên là vợ tôi ra tủ đựng bông băng lấy nước rửa vết thương cho con, xức thuốc và dán băng keo vào đó. Con Thơ xuống bếp, chuẩn bị nấu ăn.

Nó hỏi vợ tôi: “Nước máy không có, nước trong lu dớp (nhớp) lắm. Không có nước a mợ!”

Tôi đi xuống bếp, xem lại lu nước. Cát ngói từ trên mái nhà đổ vào lu. Tôi nói: “Gạn nước nầy mà nấu, đừng đi ra ngoài đường nghe không!” Con Thơ nghe lời tôi, gạn nước nấu cơm.

Trong khi đó thì vợ tôi lo dọn dẹp nhà cửa. Vì đêm qua đạn nổ, rung rinh căn nhà, nên chén bát, quần áo đổ nhào xuống nền nhà, cái bể, cái dơ, phải gom hết lại. Mấy cái mền (chăn) đắp tối hôm qua phải rủ bụi sạch để dùng lại, chưa giặt được. Cái chăn tôi đắp chung với con gái đầu thủng một lổ ở giữa. Mãnh đạn đi vào giữa hai cha con, không đụng nhằm ai cả.

Vợ tôi mừng nói:

– “Hú vía anh ơi! Mãnh đạn chui vô giữa mền mà không ai bị thương.”

Cái tủ áo quần có tấm gương soi, thì tấm gương bị bể nát. Có lẽ một miếng kính vỡ bay ra đụng nhằm thằng bé nên nó bị cắt một đường phía sau đầu. Cũng may, vết cắt không sâu.

Được một lúc, ông Hà Nguyên Chi, Phó Ty Cảnh Sát, nhà phía bên kia ngã tư, mang súng đi bộ qua nhà tôi.

Ông ta hỏi:

– “Khi hôm nghe bên ni súng nổ dữ lắm. Có ai can chi không?”

Tôi cám ơn và trả lời không ai việc gì cả. Trước khi ra về, ông ta còn dặn:

– “Đừng ra ngoài đường, Việt Cộng còn ở trên lầu trường Nguyễn Tri Phương.”

Một lúc, vợ tôi có việc gì đó, đi ra cái sân bên hông nhà. Khi vào nhà, vợ tôi nói:

– “Có miếng thịt mắc nơi cây bông hường.”

– “To hay nhỏ?” Tôi hỏi.

– “Cỡ hai chục đồng.” Vốn thực tế, vợ tôi nói.

Tôi thấy cũng buồn cười nhưng không nói gì. Thịt người chớ có phải thịt heo, bò ở chợ đâu mà ví như thế.

Hôm đó, tôi hơi buồn, cứ thắc mắc: “Mình bị pháo kích như thế nầy mà chẳng thấy anh bạn nào đến thăm cả. Ngoài đường có tiếng người lao xao một lúc, không biết người ta chạy loạn hay bọn trẻ tò mò đạp xe chạy quanh quan sát chơi.

Buổi chiều 30 tết, tôi tổ chức ăn tất niên tại nhà.

Trước đó một tuần lễ, một anh học trò nhà ở Vĩ Dạ, nói với tôi:

– “Năm ni ba em hạ một con bò thui. Thầy muốn mua thì em đem lên nhà cho thầy.”

Có bò thui và biết rằng sẽ được thịt ngon, tôi hỏi vợ tôi rồi mua mấy ký, tổ chức ăn tết với bạn bè. Trong các bạn tôi mời, có anh Hoàng Văn Xướng, bạn đồng nhiệp nhưng tôi kính mến như một người anh, tôi mời cả hai vợ chồng ông nầy. Vợ chồng anh bạn nối khố từ khi mới lên trung học: Lê Trọng Ấn, hiện làm hiệu trưởng trường trung học Tây Lộc, một bà trung tá, chồng đang du học ở Mỹ, bạn của vợ tôi, và anh Đoàn Công Lập, trưởng ty Cảnh Sát, quen thân vợ chồng tôi.

Tối hôm đó, anh Lập đến trễ lắm. Tôi đã tính không chờ nhưng các bạn biểu rán một chút. Ông trưởng ty mà ăn sau thì cũng kỳ!

Anh Lập tới thì vào bàn ngay. Trước khi cầm đũa, anh ấy xin lỗi đến trễ vì họp với bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 lâu quá – do đại tá Ngô quang Trưởng chủ tọa – Lúc ấy tướng Trưởng còn mang loon đại tá.

Anh Lập cũng cho biết là có tin Việt Cộng sẽ tấn công, không rõ mục tiêu ở đâu. Nghe vậy thì cũng hay vậy, không ai ngờ tối hôm sau, mồng một tết, Việt Cộng tấn công vào Huế.

Ngay khi anh Lập nói chuyện đó thì Việt Cộng cũng đã đột nhập vào thành phố đông lắm rồi. Vậy mà không ai biết cả hay sao?! Đánh giặc gì mà kỳ cục vậy. Tình báo ở đâu?!

Mới tiệc tùng vui vẻ đó mà bây giờ chẳng thấy ai, tôi nghĩ vậy và cũng hơi buồn.

Tối hôm đó, mới tối chúng tôi đã vào hầm, không dám ngủ ở bên ngoài. Trời sập tối một lúc lâu thì lại nghe ba phát súng lệnh, súng nhỏ và lựu đạn nổ rền trời. Khoảng một giờ đồng hồ thì dứt tiếng súng. Rồi lại có ba phát súng lệnh, mở đầu đợt tấn công mới.

Lần nầy vì Việt Cộng tấn công từ đầu hôm, không bắt đầu lúc quá nửa khuya như tối hôm trước, trận đánh kéo dài quá nên tôi lo lắng và thấy bực bội lắm. Suốt đêm ngồi bó rọ trong hầm như thế nầy lại súng đạn rền trời thì chịu đời sao thấu.

Tối nay lại có tiếng máy bay bay phía trên và có tiếng súng từ trên máy bay bắn xuống. Đó là loại máy bay Hỏa Long. Máy bay Hỏa Long bắn suốt đêm cho tới sáng bạch, ngay trên lầu trường trung học Nguyễn Tri Phương.

Cứ sau đêm tấn công, ban ngày Việt Cộng rút về ẩn núp ở đây. Súng Hỏa Long sáu nòng, bắn dữ dội nên trường Nguyễn Tri Phương bị trốc hết mái.

Cũng gần tới sáng, lại có tiếng tù và thổi như đêm trước, tôi thấy khỏe, yên lòng một chút.

Trời sáng, chúng tôi lại chui ra khỏi hầm, dọn dẹp nhà cửa.

Đêm nay, Việt Cộng không núp trong nhà tôi mà sát ngoài hàng rào phía trước, cách nhà khá xa nên chúng tôi khỏi lâm vào cảnh bị lựu đạn nổ như đêm trước, không còn pháo kích nên nhà cửa cũng không bị hư hại gì thêm.

Tôi nói với vợ tôi:

– “Mình chạy lánh nạn chỗ khác đi. Đêm nào cũng đánh nhau vậy, chịu không thấu đâu!”

Nghe lời tôi, vợ tôi chuẩn bị chạy giặc. Nửa giờ sau, chúng tôi bồng bế nhau ra khỏi nhà.

Tôi cõng bé Diễm, 4 tuổi, đứa con gái thứ ba (Kể theo trong Nam) trên lưng, tay dắt đứa thứ hai, chị cả. Vợ tôi có bầu, bụng đã to nhưng tay cũng bế thằng con trai. Con Thơ gánh một gánh đồ ăn đem theo, phòng bị đói. Hai con nhỏ kia, mỗi đứa một ôm mền mùng và quần áo cho cả gia đình.

Ra tới sân, thấy cảnh tượng ở đó, vợ tôi níu lấy tôi, không chịu đi, rên rỉ: “Ghê quá anh ơi!” Tôi nói với vợ: “Gắng lên, qua khỏi đây là hết. Không can chi!” Tôi nắm tay vợ, trong khi tay kia đã nắm đứa con nhỏ, cùng đi nhanh.

Trong sân, ngay gốc dừa là xác một chiến binh Việt Cộng, mặc quần áo bà ba đen, không có áo ấm, áo mưa gì hết. Tôi cũng không để ý có súng hay không. Phía ngoài cổng, sát hàng rào là ba xác chết khác, cũng nằm co quắp, ngoài bộ bà ba đen, không có áo ấm, áo mưa gì cả.

Tôi thắc mắc: Bộ đánh giặc nóng lắm hay sao mà không ai mặc áo ấm cả vậy trời. Hay họ không có áo ấm để mặc. Tôi nhớ năm 1947, hồi mới chạy tản cư, thỉnh thoảng, tôi có thấy Vệ Quốc Đoàn mặc áo trấn thủ, đâu có phong phanh cái áo bà ba như mấy anh Việt Cộng nầy.

Vừa ra khỏi ngõ, tôi lại thấy có mấy anh lính CSDC đứng bên hông “lô cốt”.

Có người nói:

– “Thầy có chi cho tụi em ăn với. Hai ngày nay đói lắm.”

Sở dĩ họ gọi tôi bằng thầy vì trong số đồng đội của họ, không ít người là học trò cũ của tôi.

Vợ tôi nói:

– “Có bánh tét, mấy em ăn không?”

– “Tốt lắm, tốt lắm cô. Cô cho vài đòn!”

Vợ tôi biểu con Thơ bỏ gánh xuống, lấy hai đòn bánh đi tới sát hàng rào, quăng vào cho họ.

Dự tính chạy về Chợ Cống, ngoại ô, tá túc nhà mấy người bạn, nên tôi hỏi:

– “Về Chợ Cống được không?”

– “Không được mô! Việt Cộng chiếm rồi thầy ơi!” Có người trả lời.

– “Vô thành nội được không?” Tôi lại hỏi.

– “Không được. Việt Cộng cũng chiếm rồi.” Lại có tiếng trả lời.

Không kịp suy nghĩ, tôi nói với vợ tôi: “Về Hàng Me.”

Đường Hàng Me cách nhà tôi hiện ở không xa, chưa tới nửa cây số.

Chúng tôi lúp xúp chạy, đường vắng hoe. Tới ngã tư có đường về sân vận động Tự Do, tôi thấy bên cạnh đường, kế gốc cây là xác hai người lính Việt Nam Cộng Hòa. Sau mới biết rằng hai người nầy về nhà ăn tết, nửa đêm nghe súng nổ, mặc quần áo đi bộ vào trại. Tới ngã tư nầy thì họ bị Việt Cộng bắn chết. Gia đình thân nhân chưa hay biết gì cả nên chưa chôn cất.

Tới đường Hàng Me, tôi ghé nhà bác Hoàng Xưởng, quen biết từ năm trước. Bác cũng có người con trai, học trò trường của tôi chứ không phải học trò tôi. Trước đây một năm, tôi cũng từng ở xóm nầy nên cũng quen biết nhau.

Bác ấy làm Công An (Cảnh Sát Đặc Biệt). Khu đường Hàng Me, vì trái đường, xa doanh trại quân đội nên chẳng có đánh chác gì ở đây cả. Vì không đánh nhau, bộ đội chưa tới thì cán bộ Việt Cộng cũng chưa mò tới dây, tình hình khác với chỗ khác là vậy.

Vợ bác Xưởng và mấy bà hàng xóm đang ngồi đánh tứ sắc. Thấy chúng tôi tới, họ nghỉ đánh bài, lấy đồ ăn dọn ra cho chúng tôi ăn.

Vợ chồng con cái chúng tôi và mấy đứa ở lần lượt thay nhau tắm rửa, thay quần áo, thấy khỏe khoắn và ăn ngon.

Nghĩ cũng buồn cười. Hai nơi cách nhau chưa được nửa cây số, nơi của tôi thì đánh nhau liền hai ngày đêm, điện nước không có, lại còn phải chui vào hầm trốn súng đạn suốt cả đêm. Nơi đây thì chẳng có gì hết. Súng đạn chỉ nghe xa xa vọng lại, giống như một xứ sở thanh bình, chẳng biết chiến tranh là gì cả.

Quá trưa, bác Xưởng qua nhà bên cạnh, hỏi thuê tạm cho gia đình tôi một chỗ trú chân. Nhà nầy chính là ngôi nhà tôi đã ở năm vừa qua.

Nói chuyện với chủ nhà xong, bác Xưởng nói với tôi:

– “Tui hỏi giúp anh chị lấy tạm một phòng nhà bên kia. Tối qua bên đó ngủ cho thoải mái.”

Được vậy, vợ chồng tôi mừng lắm, bèn mang đồ đạc qua nhà bên đó. Tôi vào hỏi thăm chủ nhà cho phải phép.

Vào tới nhà ông, tôi lại thấy buồn cười. Người đứng ra thay mặt chủ nhà cho thuê là ông Hoành, ông nầy làm sở Mỹ nên trông cũng khá giả, thoải mái. Khi tôi tới, ông đang ngồi ở sa-lông chơi với đứa con trai, miệng ngậm ống vố, hút thuốc Seventy-Nine thơm lừng. Tôi tự trách thầm. Học hành như ông nầy, chẳng tới đâu mà sướng vậy. Còn như mình, làm thầy giáo, chẳng bao giờ giàu, chỉ đủ ăn, giặc giã chạy loạn, tay dắt tay ôm, sao mà khổ thế!

Cũng vì ý nghĩ đó nên sau Mậu Thân, nhập ngũ rồi, ra đơn vị, tôi cũng học thói mỗi khi có thì giờ thì ngồi “vếch đốc củ tỏi” mà hút ông vố, thuốc Seventy-Nine thơm phức cho khỏe với đời một chút vậy!

Tối hôm đó, tôi ngủ ngon, mặc dù vẫn còn nghe súng nổ ở phía nhà cũ. Súng nổ xa, biết đạn sẽ không tới chỗ mình nên yên giấc suốt đêm.

Bài 2 “Tập Trung”

Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy thì trời đã sáng hẳn. Quang cảnh thật yên lặng, có tiếng người ngoài sân nhưng ngoài đường thì vắng. Tôi đi ra sân.

Ông cụ Chất, thân sinh của tướng Toàn, nhà ở bên kia hàng rào ximăng, đang kéo một ống giây nylon cho nước dùng qua sân chúng tôi vì cụ thấy bên phía nhà tôi nhiều người đang chéo réo vì nước máy không có.

Ông cụ là người tốt bụng, sinh sống ở đây đã lâu, mọi người đều kính mến.

Trong khi nhiều người đang loay hoay lấy nước thì có đứa trẻ nói: “Việt Cộng kìa!” Tay đứa trẻ chỉ lên hướng sau nhà, phía đường Đội Cung, trường Kiểu Mẫu. Người mẹ, – tôi đoán vậy – rầy đứa con: “Chỉ chỏ nó thấy nó bắn cho bây chừ.”

Thật ra, cũng không đáng lo như vậy. Tên Việt Cộng đang lom khom bò trên nóc dãy nhà dài hơi xa sân nhà tôi. Đó là dãy nhà cho thuê, ngó ra đường Đội Cung.

Tên Việt Cộng bò ra tới cuối nóc nhà thì ngừng lại. Có lẽ từ chỗ đó y quan sát phía bờ sông, chỗ bến cảng mới của lính Mỹ. Bỗng có tiếng súng lớn từ phía bờ sông bắn lên, có cả đạn lửa nên tôi thấy rõ đạn đạo bay về phía tên Việt Cộng. Anh ta vội vàng chạy tháo lui. Không rõ anh ta đi dò thám lính Mỹ hay thất lạc đơn vị.

Sau khi ăn sáng xong, tôi nói với vợ tôi:

– “Để coi yên yên, anh về nhà lấy cái T.V.”

Vợ tôi hốt hoảng:

– “Thôi anh! Nguy hiểm lắm, không đi được mô!”

– “Để chút nữa coi tình hình ra sao!” Tôi nói. “Nếu có người ta đi thì mình đi. Còn như đường vắng lắm thì thôi.”

Ngưng một chút, tôi lại nói: “Về lấy cái TV cho con nó coi. Nhà không cửa nẻo gì hết, người ta lấy mất thì biết bao giờ mới mua lại được.”

Cách đây mấy tháng, khi Huế bắt đầu có đài T.V., tôi cùng vợ đi mua một cái T.V. hiệu Denon, 20 inches, về cho các con coi.

Lương thầy giáo như tôi, với cái T.V. giá 4 chục ngàn là to lắm. Vợ tôi phải tiết kiệm lắm mới mua được. Vừa mua cái xe Vespa, lại mua thêm cái T.V., tình hình tài chính chúng tôi kẹt lắm.

Vả lại, từ khi có T.V., không khí trong gia đình vui tươi, đầm ấm. Tối lại, cơm nước xong, chuẩn bị giường chiếu rồi, cả nhà xúm nhau lại ở phòng khách mà coi T.V. Chương trình tuy không dài vì đài T.V. mới có, cũng đủ cho cả nhà giải trí mỗi đêm.

Bên cạnh đó, thằng con trai hai tuổi của tôi rất mê T.V. Hễ thấy trời tối thì thằng bé trèo lên ghế xalông ngồi, miệng nói: “Mở Vi choi”. (Mở TV coi).

Có những buổi tối, hai vợ chồng tôi đi vắng, mấy đứa nhỏ cùng mấy con ở coi T.V. với nhau. Anh Khôi, người chúng tôi cho thuê một phòng ở phía ngoài, đi chơi về thấy mấy đứa con tôi ngồi coi T.V., anh rất vui. Có lần anh ấy nói: “Về thấy mấy đứa nhỏ ngồi xalông coi TV chăm chú, tôi có cảm tưởng như cảnh bên Tây. Đời sống văn minh sướng thật!”

Tôi kể lại chuyện “Mở V choi” cho vợ nghe, để thuyết phục cô ấy để tôi về nhà lấy cái T.V. đem theo kẻo sợ bị lấy mất.

Tới trưa, thấy ngoài đường có người đi lại, nói với vợ xong, tôi bèn gọi con Thơ đi theo tôi lấy cái T.V. về. Nó cầm theo cây đòn gánh. Thấy vậy, tôi hỏi:

– “Mi cầm theo đòn gánh làm chi?”

– “Dạ, con gánh T.V. về.” Con Thơ trả lời.

Tôi nói:

– “Cầm theo cái đòn gánh, lính tráng, Việt Cộng ở xa xa, nó tưởng mầy cầm cây súng, ria cho một băng là xong đời. Ngu! Đem cất đi.”

Nó đi theo tôi về nhà. Nhà trống hoắc, không cửa nẻo gì cả vì hôm đầu tiên đạn pháo kích làm bung cửa hết cả rồi. Cũng may, hôm dọn dẹp nhà cửa sau đêm đầu tiên Việt Cộng tấn công, vợ tôi đã tháo 4 cái chân TV, còn cái TV thì lấy mền bọc lại. Tôi chỉ việc buộc giây rồi lấy cây tre thọc ngang. Con Thơ phía trước, tôi phía sau, khiêng cái T.V. về.

Ra tới ngõ, tôi tránh không đụng nhằm mấy “bánh xà bông” nằm ngay giữa ngõ. Thật ra, đó không phải là xa-bông mà chính là chất nổ, có màu hơi vàng như xa-bông cục, mềm. Có một miếng bị bánh xe đạp cán lên, xà-bông lòi ra. Có khoảng ba bốn bánh xà-bông như vậy, mỗi tấm dài khoảng 3 tấc vuông, dày cở 4 phân, bên ngoài bọc nylon màu xanh. Mỗi tấm được chia làm bốn phần bằng nhau, mỗi phần có một ngòi nổ. Ngòi nổ lớn bằng đầu đũa, dài gần ngón tay, màu trắng. Bên cạnh đó, lại có thêm hai xác Việt Cộng nữa, vừa chết đêm qua.

Tôi đoán chừng là mấy tên nầy dự tính đem chất nổ đến phá cái lô-cốt bên kia đường. Chưa kịp xung phong thị họ đã bị CSDC bắn chết ở đây.

Mấy tấm xà-bông nầy mà nổ được thì cái lô-cốt kia coi như không còn gì, những ngôi nhà quanh đây không sập thì cũng đổ vách, nứt tường, không ít người chết, bị thương. Chuyện mới xảy ra tối qua, khi gia đình tôi đã chạy khỏi đây rồi. Hú vía!

Sau biến cố, tôi bỏ nhà nầy, không dọn về ở nữa. Tôi biết vợ tôi vốn nhát gan, thấy cảnh Việt Cộng chết nằm đầy ngoài sân, bên gốc dừa, ngay cửa ngõ, bên lề đường như vậy thì đêm nào cũng có ác mộng, không thể có sự bình an tâm lý được, nên phải kiếm nhà khác mà ở vậy.

Những gia đình trong khu vực, sau khi tình hình yên ổn, lục tục kéo về.

Bấy giờ hệ thống nước máy bị hỏng chưa sửa chữa kịp, nhiều nhà dùng nước mưa. Nước hứng từ mái nhà bà cụ già ở ngay chính giữa thấy có mùi hôi, không dùng được. Để tìm hiểu, người ta mới trèo lên mái nhà xem. Té ra có xác một anh Việt Cộng nằm chết ở đấy, giữa hai mái nhà trước và nhà sau gặp nhau, chỗ nầy có cái máng xối. Đạn trúng ngay đầu anh ta. Có lẽ anh ta trèo lên mái nhà để bắn sang phía bên kia đường. Bên kia bắn lại, đạn trúng ngay đầu khiến anh ta chết ngay tại chỗ. Gia chủ phải thuê người dọn xác, đem chôn.

Tôi về tới nhà trọ mới được một lúc thì có máy bay bay trên không, phát thanh lời kêu gọi của tướng Lãm, yêu cầu đồng bào hãy tập trung về trường Kiểu Mẫu để được quân đội bảo vệ.

Thế là ai nấy ùn ùn kéo nhau đi. Tất cả dân chúng ở xóm tôi đều lên trường Kiểu Mẫu, không ai dám đi theo đường bờ sông (đường Lê Lợi). Việt Cộng ở bên kia sông, (đường Trần Hưng Đạo) hễ thấy bóng người bên nầy, không phân biệt là ai, họ bắn qua. Có lẽ binh lính Việt Cộng không ai có bằng xạ thủ nên may mắn không ai trúng đạn, chết hay bị thương cả.

Vậy nên dân chúng đi con đường trong, con đường đi vào Ty Cảnh Sát, đường Trần Văn Nhung. Ty Cảnh Sát phải đập vỡ một khúc tường phía sau để đồng bào sau khi vào Ty Cảnh Sát, thì theo chỗ tường vỡ đó mà qua trường Kiểu Mẫu. Khi đi ngang cái vọng gác ngay cổng ty, chúng tôi thấy có một tên Việt Cộng nằm chết trong đó.

Tình thật, tôi nói: “Thằng Việt Cộng mập dữ.” Vợ tôi trả lời ngay: “Chết mấy ngày sình lên chớ mập chi!”

Vào tới trường Kiểu Mẫu, lúc ấy, trường thì rộng, người chưa đông, nên dễ kiếm chỗ nghỉ. Chúng tôi chọn một lớp học ở tầng lầu hai, vào dọn chỗ nghỉ ở đó. Mấy người quen cũng dần dần kéo vào, càng lúc càng đông. Người đi tới, kẻ đi lui, chuyện trò, náo nhiệt.

Tôi dặn cả nhà cứ ở trong phòng, đừng ra ngoài, đề phòng Việt Cộng ở bên sông bắn qua hay pháo kích. Chiều lại, con Thơ cùng một đứa nhỏ khác theo giúp, xuống giếng, – Cái giếng cũ, khá lớn, đào từ hồi Tây còn đô hộ – lấy nước, vo gạo, nấu cơm. Cũng may, khi chạy giặc, phòng xa, vợ tôi có biểu mấy con ở đem theo một cái lò nấu bằng dầu hôi.

Chiều lại, cơm nước xong, trời tối dần. Người đi lại đã thưa, rồi im lặng hẳn, ai nấy đã đi ngủ. Bình yên.

Sau nửa khuya, tôi nghe một tiếng nổ rất lớn, hơi xa, không biết là chuyện gì. Một lát sau, có tiếng người ngoài hành lang nói: “Cầu Trường Tiền sập rồi.” (Đây là đề tài để sau nầy nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng sáng tác bài hát “Chuyện một cây cầu đã gãy.”)

Tôi đi ra hành lang, thấy có mấy người đang đứng ở đó, nhìn về hướng cây cầu trên sông Hương. Tuy trời tối, nhưng cũng trông thấy được: Cầu Trường tiền có sáu vài, hai vài giữa, chỗ nối nhau đã rơi xuống sông, giống như hình chữ V. Tôi nghĩ thầm, mai mốt lấy chi mà hai bên qua lại.

Năm 1946, khi Hồ Chí Minh kêu gọi “Toàn dân kháng chiến”, cầu đã bị giật sập một lần, cũng chính là hai vài cầu ấy. Sau khi Tây chiếm lại thành phố Huế, hai vài sập được bắt tạm bằng cầu sắt Eiffel, hẹp hơn, lót ván, xe cộ qua lại hai chiều không được, phải chờ nhau ở đầu vài cầu hẹp. Khoảng năm 1953, cầu đã được sửa chữa lại, bằng hai vài cầu mới, rộng như cũ, đúc ximăng. Việc giao thông trở lại bình thường.

Bấy giờ cầu được đặt tên mới là cầu Nguyễn Hoàng. Phần đông người Huế biết ông Nguyễn Hoàng là ai nhưng chẳng ai gọi nó là cầu Nguyễn Hoàng. Người ta cứ tên cũ: Trường Tiền mà gọi.

Nếu kể xa hơn nữa thì hồi trận bão năm Thìn (1902), cầu Trường Tiền hồi đó không biết làm bằng gì mà bão thổi bay mất, sau làm mới như bây giờ, đúc sàn bằng ximăng. Vì vậy, sau trận bão năm ấy, Huế có câu ca dao:

Chợ Đông Ba đem ra ngoài dại,

Cầu Trường Tiền đúc lại ximăng.

Chợ Đông Ba ngày xưa nằm phía ngoài cửa Đông Ba, chỗ sau nầy gọi là vườn hoa Đông Ba. Sau trận bão ấy, chợ dời ra ở ngã ba sông Hương và sông đào Hàng Bè. Còn chuyện “đúc lại ximăng” thì như trên, tôi đã kể.

Khi thấy cầu sập, đám người đang đứng ở hành lang lúc ấy, bàn chuyện và tỏ ý buồn. Tuy nhiên, có ai đó nói một câu được coi như an ủi, làm phấn chấn mọi người.

Người ấy nói: “Việt Cộng thua rồi.”

Nghe câu nói ấy, tôi cũng thấy vui một chút vì “Việt cộng thua.” Tôi thấy được cái lý lẽ của câu nói. Một lúc sau, đi ngủ lại, tôi nằm bên vợ tôi. Vợ tôi hỏi:

– “Chi vậy anh?”

– “Cầu Trường Tiền sập rồi!” Tôi nói.

Vợ tôi chưng hửng:

– “Cái gì? Cầu Trường Tiền sập? Việt Cộng giựt sập?”

Tôi an ủi vợ:

– “Việt Cộng giựt sập. Họ cũng sắp thua, chắc họ rút sớm thôi!”

Vợ tôi hỏi tới:

– “Răng anh biết?”

Tôi giải thích cho vợ nghe:

– “Nếu họ trên đà chiến thắng, họ giựt sập cầu làm chi! Giựt sập cầu là sợ quân mình bên nầy tiến qua.”

Nghe tôi nói có lý, vợ tôi làm thinh, ngủ tiếp.

Gần sáng thì người đi lại xôn xao ngoài hành lang, bàn tán ồn ào về chuyện cầu Trường Tiền bị sập.

Con Thơ lại thức dậy, xuống giếng lấy nước đem lên cho các con tôi rửa mặt, rồi nấu mì gói cho cả nhà. Trong khi đó thì vợ tôi lo thay quần áo cho các con.

Đến gần trưa, vợ tôi nói:

– “Mình về thôi anh. Ở đây phức tạp quá!”

Tôi không đồng ý, hỏi:

– “Tối lại thì sao?”

– “Nếu êm thì mình ngủ ở nhà, thấy không êm thì mình lại vô đây.”

Chiều ý vợ, chúng tôi xếp đặt đồ đạc, ra về.

Lần nầy, chúng tôi về bằng đường bờ sông (đường Lê lợi) không đi đường qua ty Cảnh Sát như trước.

Bây giờ, đường nầy người đi lại cũng đã đông. Khi đi ngang bến tàu của Mỹ, có chiếc trực thăng đang bay phía trên đầu, bắn hỏa tiển vào vị trí Việt Cộng bên kia sông, chỗ ngôi miếu ngay ngã ba sông Hương và sông đào Hàng Bè, bên phía Gia Hội. Tiếng hỏa tiển xịt lửa ngay trên đầu đã thấy ghê mà tiếng nổ ở bên sông rất dữ dội.

Vợ tôi kinh hãi quá, níu lấy tôi, rên rỉ: “Sợ quá anh ới! Ghê quá anh ới!” Tôi quan sát và thấy việc trực thăng bắn hỏa tiển bên sông, không ảnh hưởng gì tới bên nầy, bèn an ủi vợ: “Họ bắn bên tê, có can chi tới mình đâu!”

Rồi tôi đưa cả gia đình tôi về ngôi nhà mới thuê. Chiều hôm đó, thấy không yên tâm ngủ ở ngoài nầy, chúng tôi lại vào trường Kiểu Mẫu, trở lại chỗ cũ.

Bài 3 “Phản công”

Tôi không rõ lực lượng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh bắt đầu phản công từ lúc nào. Thật ra, ngày đầu tiên, khi gia đình chúng tôi chạy tới đường Hàng Me thì lính Mỹ đã từ Phú Bài kéo về tăng cường phòng thủ Huế, căn bản là giữ khu vực Khách Sạn Thuận Hóa.

Bên phía Hữu Ngạn sông Hương nầy, Mỹ chỉ giữ được khu vực Khách Sạn Thuận Hóa. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì cũng chỉ giữ được Tiểu Khu Thừa Thiên – Huế, (tức “Bản Doanh Phan Sào Nam” cũ), Ty Cảnh Sát QG Thừa Thiên/ Huế và Đài Phát Thanh Huế.

Ngay doanh trại CSDC trước mặt nhà tôi, chỗ có cái lô-cốt, bị Việt Cộng tấn công dữ dội, mấy ngày sau, khi gia đình tôi chạy khỏi nơi nầy rồi, lính CSDC ở đây cũng rút về ty, bỏ trống doanh trại nầy. Ngoài ra, toàn bộ “Quận Hữu Ngạn” đều bị Việt Cộng chiếm hết.

Trong Thành Nội, nghe nói còn giữ được thành Mang Cá, gồm Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 và Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương.

Ngay hôm đầu, vài tên du kích Việt Cộng vào được trường Đại Học Khoa Học (Khách Sạn Morin cũ). Chúng xuất hiện tại mấy cái cửa sổ trên lầu khu đại học nầy, phía đường Duy Tân, bắn xuống Tiểu Khu.

Quân phòng thủ Tiểu Khu bắn trả dữ dội, bằng nhiều loại súng, đại liên 30 đặt trên bờ thành cao, sát trường Kiểu Mẫu, và cả M-79, nên bọn chúng hốt hoảng rút lui, không dám xuất hiện bắn lén nữa.

Có lẽ lực lượng vào được Morin quá ít, nên chúng không tấn công, bắn phá gì nhiều. Ngay cả đài phát thanh, ngang với khách sạn Morin, bên kia đường Lê Lợi, cũng không bị Việt Cộng khuấy rối.

Phần đông, Việt Cộng chiếm Kho Bạc (Ty Ngân Khố), như người ta nói, có lẽ là để lấy tiền, và Bưu Điện, lẻ tẻ một ít tên ở Ty Y-Tế. Người nói lại rằng Việt Cộng tưởng Ty Y Tế có nhiều thuốc men nên tính vào đó lấy thuốc. Chúng không biết rằng ở đó chỉ là bộ phần hành chánh, chỉ toàn giấy tờ mà thôi.

Anh Đoàn Công Lập Trưởng Ty Cảnh Sát, hôm tôi chạy lên trường Kiểu Mẫu, gặp tôi, anh cũng cho biết hai hôm đầu, anh ở tại Đài Phát Thanh Huế. Sau đó, tình hình khá hơn, anh về lại trụ sở ty cùng với các anh em khác hiện đang phòng thủ ở đó.

Thấy tình cảnh gia đình tôi đang chạy giặc, anh sai lính mang đến cho một bao gạo năm chục ký. Nhờ vậy nên trong những ngày đầu chạy giặc, tôi khỏi lo gạo ăn.

Khi đồng bào được lệnh tập trung về trường Kiểu Mẫu, vài xe tăng Mỹ, loại M-24/ Chaffee, trang bị súng canon Beauford 75 ly có sức tàn phá dữ dội, từng nổi tiếng trong Thế Giới Chiến Tranh thứ Hai, xuất hiện ở ngã tư Duy Tân – Lê Lợi, ngay đầu cầu Trường Tiền.

Hôm sau, trên đường Lê Lợi, hai chiếc xe tăng (tank M-24), một chiếc phía trái, một chiếc phía phải yểm trợ nhau, có “bộ binh tùng thiết”, dọc theo đường Lê Lợi mà tiến dần lên phía ga xe lửa.

Để ý, một hai ngày đầu, không hiểu vì thiếu lực lượng hay vì lý do gì, tôi thấy buổi sáng thì xe tăng và bộ binh Mỹ từ từ tiến lên, cứ nhắm vào cửa sổ những ngôi nhà lầu hai bên đường Lê Lợi như Nha Công Chánh, Ty Y Tế, bắn phá ầm ầm. Bộ binh núp sau xe tăng tiến theo.

Cứ đại bác bắn phá dữ dội như vậy, Việt Cộng nào chịu nỗi mà không rút lui.

Tuy nhiên, cũng những ngày đầu, tôi có cảm tưởng lính Mỹ đi đánh giặc mà giống như công chức đi làm việc: Sáng tiến lên, chiều rút về, tập trung phòng thủ ở vườn hoa bên bờ sông, ngang tòa Khâm Sứ cũ. Cứ mỗi sáng tiến lên lại bắn phá vào những ngôi nhà cao hai bên đường, nhà cửa nào mà còn, lại hao hụt lính tráng chết hoặc bị thương. Chỉ mấy ngày sau, mới thấy họ tiến đi luôn, buổi tối không rút về nữa.

Tôi chỉ quan sát được bên phía gần bờ sông, còn phía trong, phía Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế, (nơi tôi dạy học), Kho Bạc, nhà Giây Thép thì không rõ tình hình như thế nào.

Có điều đáng buồn là khi quân Mỹ tấn công theo đường Hoàng Hoa Thám, ngang trường Tiểu Học Lê Lợi thì họ bắn sập hoàn toàn Lớp Mẫu Giáo mới xây của ngôi trường nầy.

Đây là lớp học năm đầu tiên của con gái đầu lòng của tôi. Vì vậy, sau khi yên giặc, đưa con đi học lại, không bao giờ tôi đi ngang qua chỗ lớp Mẫu Giáo đó. Tôi sợ khung cảnh ấy sẽ gây nên một ấn tượng buồn bã trong tâm hồn trẻ thơ của con tôi. Có ai vui gì khi thấy lớp học đầu tiên trong đời mình đã bị chiến tranh tàn phá đổ nát, tan hoang như vậy.

Nhìn chung, dù con tôi hay những đứa trẻ khác, chiến tranh là nỗi kinh hoàng của trẻ thơ Việt Nam, ở ngoài Bắc hay trong Nam cũng vậy thôi.

Có điều khác, tôi chỉ muốn tránh cho con tôi thấy khung cảnh chiến tranh tàn phá ấy chớ không dạy cho con lòng hận thù những người phe bên kia!

Những người cầm súng chiến đấu, xông pha tên đạn, chết chóc hay bị thương, ai cũng đáng thương cả. Đáng trách, chính là ở những người hậu phương yên bình nhưng chính là người gây ra chiến tranh, là người xô đẩy người khác đem thân vào cảnh chết chóc ấy, thay cho bản thân họ hay con cháu họ, nhưng lại ngụy danh bằng những mỹ từ.

Quân Mỹ giải tỏa tới đâu, đồng bào ở đó bồng bế nhau chạy về tập trung ở Trường Kiểu Mẫu. Ban đầu là dân chúng ở khu vực Nha Công Chánh, khu Bến Trảng Hề, khu nhà lao động phía sau Kho Bạc, – tức khu lao động có tiệm bún bò Chị Lợi nổi tiếng ngon -, rồi dần tới khu Bệnh Viện Trung Ương Huế.

Bệnh viện dời về, chiếm tầng dưới của một tòa nhà trường Kiểu Mẫu, bệnh nhân cũng được đưa về đó. Tất cả nhân viên, bác sĩ, y tá cũng về đây.

Ngày mồng 9 Tết, khu vực Bến Ngự được giải tỏa, đồng bào lũ lượt kéo về tập trung ở trường Kiểu Mẫu.

Thật ra, mấy ngày hôm trước, đồng bào có nghe được lời kêu gọi của Tướng Lãm phát trên máy bay, nhưng không ai thoát ra khỏi khu vực được vì Việt Cộng cấm không cho ai đi đâu cả.

Trong số đồng bào chạy về lánh nạn ở đây, người ta nói có em gái Hoàng Phủ Ngọc Tường, cô nầy đang làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Ngự. Các em gái của Trịnh Công Sơn và gia đình y cũng chạy về đây!

Dân chúng không thích những người nầy vì anh em Tường, Phan thì theo Việt Cộng, Sơn thì viết nhạc phản chiến, (lúc ấy, mấy ngày đầu, người ta chưa rõ lắm chuyện người Huế bị giết oan hay những hành động tàn ác của Việt Cộng cũng như đám Tường, Phan khi Việt Cộng chiếm thành phố Huế gần một tháng dài).

Vì không thích, vì không ưa, không muốn thấy mặt họ nên mới có chuyện bàn tán trong dân chúng về sự có mặt của các gia đình nầy trong khu vực những người chạy nạn Cộng Sản. Theo Cộng Sản để rồi chạy nạn Cộng Sản. Điều người ta muốn nói là ở chỗ đó. “Cõng rắn cắn gà nhà”, mà em út mình bị rắn cắn trước!

Trong số đồng bào từ Bến Ngự chạy về, tôi gặp một vài người bạn rất thân.

Gặp được nhau, lại mừng rỡ và kể “chuyện chạy giặc”.

Anh bạn đồng nghiệp Nguyễn Trọng Từ kể: Ông Quận Trưởng Cảnh Sát Võ Phú đoán biết thế nào Việt Cọng cũng vào bắt ông, nên ông Võ Phú leo tường qua trốn bên nhà bếp của Từ. Khi Việt Cộng đến xét nhà, nhà Từ không bị xét vì tên học sinh làm giao liên cho Việt Cộng nói rằng “hai nhà nầy là hai ông giáo sư”. Tên cán bộ – nói giọng Bắc – không biết giáo sư là gì, phải hỏi lại. Tên giao liên phải nói rõ “giáo sư là thầy giáo”. Bọn chúng bỏ đi. Nhờ vậy mà ông Võ Phú thoát. Mạng ông còn to, dù sau 1975, ông qua đời trong tại cải tạo, cũng còn có được một chỗ đất chôn, chứ không bị chôn sống, không biết chôn nơi nào như những người bị bắt hồi Tết Mậu Thân. (Con trai đầu của ông Cụ Võ Phú là dược sĩ Võ Thành Tân, nguyên là học sinh của tôi niên khóa 1958-59, hiện làm chủ nhà Thuốc Tây Saigon ở Toronto).

“Hai ông giáo sư”, một là Nguyễn Trọng Từ, một là anh Hoàng Văn X., (xin được giấu tên). Anh X. lớn tuổi hơn tôi và Từ, học trước một lớp, cùng dạy học một trường, là người tôi và Từ rất yêu kính.

Trong cuộc bầu cử Tổng Thống và Thượng Nghị Viên năm 1967, anh cùng với Ông Nguyễn Hữu Trí, Giáo Sư Đại Học Huế và Cụ Hồ Ứng Dần, nguyên Phó Tỉnh Trưởng Thừa Thiên, thời kỳ Ngô Đình Diệm, làm “Đại diện cho Liên Danh 9” là Liên Danh ứng cử tổng thống và phó tổng thống của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ. Nhờ anh làm việc trong “Ban Tham Mưu”, không xuất hiện trước quần chúng, nên bọn Việt Cộng nằm vùng không biết việc làm của anh. Nếu biết, chắc anh ấy nay không còn.

Khi anh X. cùng vợ con chạy về trường Kiểu Mẫu, gặp tôi anh mừng lắm. Mấy ngày sau, tôi nói với anh rằng tôi hết tiền, mượn anh một ít tiêu đỡ. Anh bảo: “Moa còn 9 trăm, “moa” đưa cậu 5 trăm. Khi nào trả cũng được.”

Sau đó, tôi nhập ngũ, không trả món nợ cho anh. Sự việc không phải là mấy trăm bạc. Trong hoàn cảnh đang chạy giặc, dĩ nhiên tiền bạc khó khăn, mà chia nhau như vậy thì cái tình cảm ấy quí hiếm lắm. Sau nầy, bạn bè biết chuyện, ai ai cũng khen anh ấy có lòng với bạn bè. Quả thật, sau nầy “làm lớn” trong Phủ Tổng Thống, có quyền, anh giúp đỡ bạn bè hết lòng. Chuyện đó là “hậu Mậu Thân” nên không kể vô đây làm chi.

Điều đáng buồn là chúng tôi, bạn bè đồng nghiệp, dạy cùng một trường trên dưới 10 năm, gian nan cùng gánh, vui buồn cùng chia. Sau biến cố Tết Mậu Thân, chúng tôi lần lượt bỏ trường, mỗi người một nơi. Tôi đi xa nhất, về tận Hà Tiên. Bạn bè biết tôi đi quá xa, ai cũng thương tình.

Trong số những người chạy từ Bệnh Viện Huế về, tôi cũng gặp hai vợ chồng anh Đào Hải. Cả hai vợ chồng đều là y tá bệnh viện. Vợ anh là bà con bên vợ tôi.

Anh Hải cùng vợ đang làm việc ở bệnh viện thì trận giặc xảy ra. Sợ pháo kích, hai vợ chồng về núp ở một cái hầm xây ximăng rất lớn, phía sau Ty Bưu Điện. Hầm nầy được xây từ thời Nhựt để nhân viên và gia đình Bưu Điện núp máy bay Mỹ đến oanh tạc.

Khi lính Mỹ bắt đầu phản công, có hai cán binh Việt Cộng hớt hãi chạy vào núp ở hầm nầy với đồng bào. Được môt buổi, hai cán binh đem súng B-40 dấu ngoài hàng rào, cởi bỏ quần áo bộ đội, xin áo quần của dân chúng mặc vào, cùng chạy giặc với đồng bào. Tuy nhiên, khi về tới trường Kiểu Mẫu, hai anh cán binh nầy biến mất. Người ta nói là hai anh cán binh nầy sợ bị đồng bào tố giác.

Lính Mỹ phản công hai mặt. Mặt tiến lên hướng tây, giải tỏa từ Ty Y Tế lên dần tới Bến Ngự, Nam Giao, Ga Huế và đi sâu về phía Tân Nam… Một mặt, tiến về hướng đông, xuống Sân Vận Động Tự Do, chợ Cống. Suốt ngày đêm súng nổ ì ầm. Vợ chồng con cái tôi, ngày thì về nhà ăn uống, tắm rửa. Tối lại thì lên trường Kiểu Mẫu ngủ cho an toàn.

Ngay bữa đầu tiên mới về nhà, anh Vĩnh Nghị, học trò cũ của tôi, hiện là CSDC đến thăm.

Anh ta nói:

– “Mấy hôm đầu, Việt Cộng tấn công. Em núp trong lô-cốt, bắn M-79 vào nhà thầy.”

Tôi cười, nói đùa:

– “Cám ơn anh. Hèn chi nhà tui cửa nẻo vách tường, chẳng cái nào còn nguyên.”

Nghị nói, sôi nổi:

– “Tại vì có ba bốn thằng núp ngay nhà thầy. Hai đêm liền như rứa (vậy). Không bắn vào đó là không yên với chúng. Chúng núp trong nhà thầy bắn ra chính xác lắm.”

Tôi cũng lại đùa:

– “Tụi nó bắn chính xác đâu không thấy nhưng anh bắn cũng không dở lắm đâu. Năm sáu cái xác Việt Cộng nằm ngay trong sân nhà tôi.”

Một chốc, tôi hỏi tiếp:

– “Cái thằng “Tôi ra hàng nhé” đâu rồi?”

Nghị đáp, mặt khá tĩnh:

– “Chết rồi!”

– “Sao vậy?” Tôi hỏi.

– “Bọn em giải giao cho Tiểu Khu.” Nghị nói. “Bên đó có thằng lính vừa nghe tin anh nó bị Việt Cộng giết, nổi sùng, nó lấy rựa chém chết thằng Việt Cộng.”

Tôi bàng hoàng:

– “Sao ác vậy! Nguời ta đầu hàng thì thôi. Ai lại vác rựa chém chết. Làm như vậy là vi phạm luật pháp quốc tế đó.”

– “Cũng có người can nó! Ai cũng nói như thầy.” Nghị giải thích. “Nhưng nếu như ai có người anh bị Việt Cộng giết như nó, chắc cũng làm như nó thôi. “Máu chảy ruột mềm” mà thầy! Thầy làm nghề dạy văn chương, luân lý, hay nói lý thuyết. Thực tế, nhiều khi trái ngược.”

Tôi làm thinh, cũng thấy thông cảm phần nào cho người lính có anh bị giết.

Một lúc, để tránh sự im lặng nặng nề, tôi lãng sang chuyện khác:

– “Ông” đi đâu mà bữa nay mang súng Garant? M-16 đâu rồi?”

– “Súng nầy bắn được xa. Thấy mấy thằng Việt Cộng chạy lui chạy tới bên đường Trần Hưng Đạo mà ngứa mắt. Em ở bên nầy sông, thấy thằng nào, em ngắm súng Garant thiệt kỹ, nã cho một phát, nó biến mất. Mười thằng như một!”

Tôi nói đùa:

– “Chắc nó đi gãi ngứa chớ gì?”

– “Không đâu!” Nghị cười. “Tụi nó về chầu tổ Mác-Lê hết.”

Ngồi chuyện vãn với tôi một lúc, vợ tôi dọn cơm cho Nghị ăn.

Đang ăn, Nghị khen:

– “Cơm ngon quá, mấy bữa nay, em không về Vĩ Dạ được, ăn uống tào lao không!”

Nghị là người Hoàng phái, cha mẹ ở Vĩ Dạ, xóm của mấy ông hoàng, bà chúa.

Tôi hỏi:

– “Hai đòn bánh tét, anh có ăn không?”

Nghị nói, hào hứng:

– “Ngon quá! Ngon quá! Em chưa bao giờ ăn bánh tét ngon như bữa đó.”

– “Tại “ông” đói quá chớ gì?” Tôi góp ý.

– “Vừa đói lại vừa ai làm bánh ngon quá.” Bỗng Nghị hỏi vợ tôi: “Cô mua hay cô nấu?”

Vợ tôi chỉ cười mà không nói. Tôi trả lời thế cho vợ:

– “Cô nấu đấy. Năm nào cô cũng nấu. Nhà có bao nhiêu người đâu, nhưng cô ưa nấu, đãi bạn bè ăn chơi. Cô chẳng học nghề ai cả mà nấu cũng ngon. Tài không?”

– “Ngon thiệt! Em thiệt tình, không nịnh cô đâu!”

Nói xong, anh ta cười, tôi cũng cười theo!

Một lúc sau, Nghị hỏi tôi:

– “Ông Trưởng Ty là bạn thầy phải không?”

– “Bạn sao được!” Tôi nói. “Ông hơn tui cả chục tuổi, sao có thể bạn bè. Nhưng có quen thân.”

– “Tụi bạn em nó “xì xầm” về ông ta đấy.” Nghị nói.

– “Xì xầm gì? Chuyện ông ta có vợ bé chớ gì. Cô ấy là học trò cũ tui.”

– “Em biết! Không phải chuyện đó. Chuyện ông ta tránh mặt qua Đài Phát Thanh khi Việt Cộng tấn công.” Nghị giải thích.

– “Tui có nghe ông ấy nói với tui chuyện ông ở bên Đài! Tui hiểu rồi; đừng nói nữa, mất lòng.”

Cuối năm rồi, trong cuộc vận động tranh cử giữa “Liên Danh 9 Thiệu -Kỳ” với “Liên Danh Bông Lúa” của Đại Việt, ở quận Phú Vang, có sự xung đột gay gắt giữa hai phe; ông Lập đứng ra giải quyết rất khéo léo, những người trong cuộc, ai cũng khen ngợi ông. Đêm mồng một Tết, không rõ trước hay sau khi Việt Cộng tấn công, ông tránh mặt qua đài Phát Thanh, Huế. Ông ta đề phòng, lỡ khi Việt Cộng chiếm được Ty Cảnh Sát, thế nào cũng tìm trưởng ty, thì ông đã “lặn” rồi. Còn như Việt Cộng chiếm Đài Phát Thanh, ông ta khai là nhân viên gì đó của đài, “an toàn tính mệnh” hơn không?

Bỏ anh em, đồng sự dưới quyền mà “dọt” lẹ, quả thật người ta “xì xầm” cũng phải. Tuy nhiên, sau nầy, ông Liên Thành nói ông Lập là “Việt Cộng nằm vùng” nghe càng trái tai hơn.

Chiều hôm đó, có một toán Thủy Quân Lục Chiến của ta đến khu vực tôi. Vài người vào sân nhà tôi. Hình như có một tiểu đoàn vừa từ Saigon ra tăng cường cho Huế. Một anh đang lui cui bên hè nhà. Tôi đứng hỏi chuyện anh.

Bỗng anh ta hỏi:

– “Có nước sôi cho xin một ca.”

Tôi vào nhà lấy nước sôi cho anh ta. Anh mở bao sạo sấy, đổ nước vào, chuẩn bị ăn tối. Thấy vậy, tôi đi vào nhà hỏi vợ tôi có gì thì “tiếp tế” cho anh lính môt ít. Khi tôi cầm gói bánh chưng đi ra chỗ anh thì thấy anh ta đang cột bao gạo sấy lại, bỏ vào ba-lô.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– “Sao không ăn?”

Anh ta trả lời:

– “Có lệnh di chuyển gấp, không ăn kịp.”

Tôi đưa cái bánh chưng cho anh ta.

Nghe chuyện người lính chưa kịp ăn đã đi, ai ai cũng xót xa. Từ trước đến nay, chiến tranh diễn ra ở thôn quê, ở rừng già, người dân thành phố chỉ nghe nói chứ chưa thấy tận mắt. Nay thì rõ. Từ sáng đến giờ chưa ăn gì – như anh ta vừa nói – Bao gạo sấy chưa kịp ăn thì đã mang súng đạn lên vai, nặng nhọc bước đi. Ai không khỏi xúc động.

“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu” chỉ là cái hay trong văn chương. Việc ấy xưa quá, xa quá. Bây giờ, ở đây là đời thực, là hình ảnh người lính chưa kịp ăn, phải bỏ bao gạo sấy vào ba-lô mà lên đường hành quân. Điều nầy rõ ràng là rất đau xót, không thi vị một chút nào, không “văn chương thi phú” chút nào.

Anh cùng đồng đội tiến ra đường Hàng Me, hướng bờ sông, rồi quẹo về ngã Vĩ Dạ. Tôi chợt thấy đại úy Ngộ, một người bạn học cũ, ở lớp Đệ Tứ, là cấp chỉ huy đơn vị. Tôi kêu tên anh ta, thảng thốt. Anh quay lại nhìn tôi và cũng nhận ra tôi.

Tôi chạy ra, vừa kịp nắm tay thì Ngộ bảo:

– “Tao đi gấp, phải đem đơn vị qua Mang Cá gấp.”

Vì ngã cửa Thượng Tứ và Đông Ba chưa giải tỏa được nên tôi đoán hướng đi của đơn vị, hỏi:

– “Đi ngã Cồn Hến?”

Ngộ chỉ ừ rồi tất tả bỏ tôi, theo đoàn quân của anh.

Có lẽ toán quân của anh vượt sông Hương ở Vĩ Dạ, tàu Hải Quân sẽ đưa thẳng qua Bao Vinh rồi vào ngã cửa Trài của thành Mang Cá.

Ngộ đi rồi, tôi mới biết mình ngu! Ai người ta nói cho mình biết con đường người ta chuyển quân bao giờ. Nếu anh ta không nghi tôi là Việt Cộng thì ít ra, anh ta cũng có thể ngại tôi vô tình nói ra nên Việt Cộng biết được. Bí mật quân sự mà!

Đó là lần cuối cùng tôi gặp Ngộ, không biết về sau, cuộc đời chinh chiến của Ngộ như thế nào!

“Những người chinh chiến bấy lâu…

Nhẹ xem tính mạng như mầu cỏ cây”

(Chinh phụ ngâm)

Mấy hôm đó trời Huế mưa dầm nhưng ít có gió bấc nên trời không lạnh lắm.

Buổi trưa, tôi ra đầu đường Hàng Me, chỗ ngã ba nối với đường Lê Lợi, ngồi bên cột đèn ximăng, ngó qua cột cờ Ngọ Môn bên kia sông.

Trời mưa và không có gió nên “ngọn cờ nửa đỏ nửa xanh” rủ xuống, buồn thảm. Hình ảnh ấy làm tôi nhớ tới mấy câu thơ của Trần Dần trong bài “Nhất Định Thắng”:

Tôi bước đi

không thấy phố không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ

Đó là ngọn cờ trừ ma, là ngọn cờ ở Hà Nội, còn ở đây, Ngọ Môn, ngọn cờ ấy là ngọn cờ ma. Ma Việt Cộng, ma quỷ ám thành phố nầy trong những tết Mậu Thân.

Mấy hôm sau, đại bác từ Trường Bia bắn qua phố Trần Hưng Đạo, qua Thượng Thành, hai bên cửa Thượng Tứ để yểm trợ cho tiểu đoàn 2/3 (?) của thiếu tá Đính (?) đang giải tỏa khu vực nầy. Chiều lại, hai chiếc máy bay Phantom của Mỹ bay ngang thật thấp, bên phía nầy, bắn hỏa tiển và bỏ bom lên cửa Đông Ba. Cụ Chất (thân sinh của Tướng Toàn, như tôi có nói ở bài 1), đứng ở trong sân nhà cụ, thấy tôi đứng bên nầy sân, lầu bầu: “Bắt con chí mà phải cạo trọc cái đầu.”

Sau việc đơn vị Thủy Quân Lục Chiến của bạn tôi đã di chuyển, nhiều người dân ở phố Phan Bội Châu, Trần Hưng Đạo, chạy thoát được qua phía bên nầy sông.

Bên ấy, Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân của Đại Úy Võ Vàng đang đụng nhau với Việt Cộng dữ dội ở Chùa Áo Vàng, kế bên đường Võ Tánh (tên nôm na là Ô Hồ), rồi sau đó, cũng đơn vị ấy đánh bật quân Việt Cộng ra khỏi phi trường Tây Lộc. (Năm 1975, ông Võ Vàng là trung tá, bị Việt Cộng giết ở Quảng Ngãi. Ông nổi tiếng là sĩ quan tài ba thuộc binh chủng Biệt Động Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông là học trò mà cũng là chồng của chị Nguyễn Thị Đường, nhà ở dốc Nam Giao. Chị là bạn học của tôi năm Đệ Nhất (1957-58), chị tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm và có thời gian làm hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi.)

Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân ghi được những chiến công vẻ vang trong những ngày phản công chiếm lại thành phố Huế, là một đơn vị nổi tiếng, ai ai cũng biết và hết lời khen ngợi.

Tình hình phía bờ sông bên kia, – đường Trần Hưng Đạo – dần dần được yên. Quân Việt Cộng bị đánh đuổi ra khỏi khu vực tả ngạn, ngoại trừ khu Gia Hội.

Hai ngày sau khi đơn vị Thủy Quân Lục Chiến rút đi, có một chiếc xe tăng có 6 nòng đại bác, mỗi bên 3 nòng. Chiếc xe tăng chỉ lớn hơn chiếc xe Jeep chút đỉnh mà có tới 6 nòng đại bác. Chiếc xe lục cục chạy ra bờ sông, phía dưới “Tân Cảng” của lính Mỹ một chút, gần khách sạn Hương Giang của “cậu” Cẩn.

Chiếc xe tăng quay về hướng nhà thờ Gia Hội và lần lượt hết nòng súng nầy đến nòng súng khác, nổ từng phát về phía đó.

Tôi tò mò đứng ở phía bên nầy đường coi thử xe tăng bắn cái gì.

Một chốc, cái tháp chuông nhà thờ Gia Hội không còn nữa. Như vậy có nghĩa là quân Việt Cộng núp ở tháp chuông bên ấy, bắn lén sang bên nầy, hay chỉ điểm cho Việt Cộng pháo kích bên nầy.

Khi đạn nổ ngay vào tháp chuông, không biết ông cha nhà thờ bên ấy lo lắng sợ hãi ra làm sao! Mới năm trước, vì chuyện ứng cử của “Liên Danh Sư Tử Cầm Bút” của giáo sư Vũ Quốc Thúc, vào Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa, vì là đại diện cho liên danh nầy, tôi có qua gặp ông linh mục ấy để nhờ một chuyện.

Linh mục rất tử tế, niềm nở chuyện trò với tôi. Rất tiếc là sau khi tôi đưa cho ông một số bích chương, theo lời dặn của Giáo Sư Phó Bá Long và Trần Long, thì số bích chương ấy không được dán lên như ông linh mục đã hứa, chẳng qua “Liên Danh Sư Tử Cầm Bút” không phải là “Liên Danh Bông Huệ” của mấy ông theo đạo Thiên Chúa ở Việt Nam.

Dù sao, ấn tượng gặp gỡ ấy làm cho tôi lo lắng cho ông khi thấy xe tăng Mỹ nhắm bắn sập tháp chuông nhà thờ bên ấy. Rồi còn đồng bào ở đường Trung Bộ – con đường chạy ngang trước nhà thờ – nữa chi.

Ở đó, tôi có biết bao nhiêu người quen biết.

Bài 4 “Chết chóc”

Từ ngày mồng 9 Tết, khu vực Bến Ngự, Nam Giao, Ga Huế lần lượt được giải tỏa, đồng bào trên đó chạy về. Bấy giờ thì Trường Kiểu Mẫu đông nghẹt, phòng nào phòng nấy đầy ắp người, kẻ đi tới, người đi lui, chuyện trò, trao đổi, v.v… ồn ào ngày đêm không dứt. Mãi tới khuya lắm, mọi người đều đi ngủ thì mới yên lặng được một chút.

Vì quân Mỹ đang phản công, quân Việt Cộng cố giữ nên hai bên đánh nhau rất căng, nhất là phía Chợ Cống, Sân Vận Động, súng nổ ran, bất kể ngày đêm. Vì vậy, gia đình nhỏ của tôi, không dám về nhà, ngày đêm đều ở lại trường.

Buổi chiều ngày mồng 10 tết, con Thơ ra giếng kéo nước rửa chén bát. Đây là cái giếng cũ, khá lớn, đâu từ thời Tây xây tòa Khâm Sứ ở đây. Giếng lúc đó hết sức đông, đứng lớp trong lớp ngoài, kẻ thì kéo nước, người thì chờ.

Trời sắp tối, một người lính thuộc Tiểu Khu lên ca gác, leo lên một cái chòi canh cao. Anh ta thử cây súng trung liên, bỗng súng cướp cò, nổ một phát đạn. Trong khi thử súng, anh ta vô ý chĩa ngay nòng súng về phía đám đông đứng quanh giếng. Phát đạn nổ ghim ngay vào đầu con Thơ.

Tôi đang ngồi bên cạnh vợ và các con thì có một cô gái nhỏ chạy tới nói:

-“Thầy cô ơi! Chị người làm của thầy cô bị trúng đạn ngoài giếng, đưa vô bệnh viện rồi.”

Tôi hốt hoảng chạy qua gian lầu được xử dụng tạm làm bệnh viện. Tình hình bệnh viện chạy loạn cũng lộn xộn không kém gì dân chúng. Tôi đi từ phòng này qua phòng khác tìm nhưng không biết người ta để con Thơ ở đâu. Cuối cùng, anh Đào Hải, y tá ở bệnh viện, vợ anh là bà con bên vợ tôi, tìm gặp tôi, nói:

– “Anh ở đây nhưng em mới qua gặp chị. Chị biểu đi kiếm anh. Chị khóc dữ.”

Tôi hỏi:

– “Con Thơ bị nặng không?”

– “Không sống nổi đâu! Đạn vô đầu.”

Tôi cũng thấy tuyệt vọng khi nghe nói đạn vô đầu. Anh Hải dẫn tôi vào phòng cấp cứu nhưng con Thơ đã được đưa ra nằm ngoài hành lang. Chúng tôi đi ra hành lang, thấy có một cái cáng đặt bên chân cầu thang. Anh Hải nói: “Nó đây!”

Người ta đắp lên mình con Thơ một cái mền bằng giấy, loại mền nầy do Mỹ viện trợ để dùng tạm, xài xong bỏ. Cái mền đắp kín mặt. Như thế, có nghĩa là nó đã chết. Anh Hải kéo cái mền giấy xuống khỏi mặt. Tôi thấy con Thơ còn thở ngáp, hỏi:

– “Chú Hải, còn thở ngáp mà!”

Hải nói:

– “Bác sĩ giải thích máu chưa tràn ra khắp não nên còn thở ngáp. Vài chục phút sau là chết hẳn. Có lẽ trong phòng chật quá, có rất nhiều người bị thương nên người ta đem ra đây những người không còn hy vọng gì.”

Tôi đứng nhìn xác con Thơ, trầm ngâm không biết nói gì, không kịp suy nghĩ gì, chỉ thấy lòng tôi đau đớn dữ dội, thấy tội nghiệp cho con nhỏ và cả cho cả mấy đứa nhỏ, kể cả ba đứa con của tôi. Sự việc diễn biến quá mau lẹ và hết sức xúc động nên tưởng như trí óc mình tê dại hẳn đi. Mới chiều ba mươi tết, bạn bè tập trung tại nhà tôi, ăn tất niên; tiệc tùng vui vẻ, con Thơ lăng xăng giúp vợ tôi lo tiếp khách. Thế mà nay nó chết rồi! Tôi nghĩ tới lời mẹ nó, một người đàn bà tôi chưa từng gặp, nói với mẹ tôi khi cho con Thơ làm con ở cho vợ chồng tôi: “Cho con lên tỉnh ở để tránh súng đạn. Mệ (tức là bà nội hay bà ngoại – tiếng miền Trung) cho bao nhiêu cũng được!”

Ở thôn quê, hai bên thường đánh nau dữ dội, bom đạn dữ dội. Ở thành phố yên lành hơn nên cho con đi ở để tìm chỗ yên lành hơn là cho con đi kiếm tiền đem về cho mình. Tội nghiệp cho người đàn bà thương con. Tôi cũng nghĩ đến mẹ tôi, rất thương con. Có lẽ mai đây, khi mẹ tôi gặp mẹ nó, nói tới cái chết của con Thơ, mẹ tôi cũng nghẹn ngào, thương xót người mẹ mất con nên không nói được chi! Trong tình mẹ thương con, không có ranh giới giữa hai người đàn bà đó, những người đàn bà khốn khổ mất con vì chiến tranh. Cách đây gần 20 năm, mẹ tôi cũng từng khóc anh cả tôi khi anh ấy, vừa 20 tuổi, như tuổi con Thơ bây giờ, bị Tây bắt và thủ tiêu vì tội “làm Việt Minh.” Những người làm mẹ, có lẽ biết thế nào là lòng thương con. Ai sinh con ra mà không nuôi, không thương, thì không thể nào hiểu được lòng mẹ thương con như thế nào!

Thấy tôi đứng lâu mà không nói gì, anh Hải nói:

– “Không có cách nào nữa đâu. Thôi tối rồi, đứng ngoài ni (nầy) nguy hiểm, anh về đi.”

– “Rồi việc chôn cất làm sao?” Tôi hỏi.

– “Anh đừng lo. Mọi việc bệnh viện lo.” Anh Hải nói.

– “Chôn ở đâu?” Tôi lại hỏi.

– “Chôn tạm phía bờ tường sát tiểu khu. Bây giờ không đi ra ngoài được. Chỗ nào cũng đánh nhau.” Anh Hải giải thích.

– “Không có hòm chi hết.” Tôi lại hỏi.

– “Không! Bọc cái mền giấy mà chôn. Ai cũng rứa (vậy). Hôm tê (kia) mới chôn ông Thiếu tá Bào, cũng rứa.” Anh Hải nói. Thiếu tá Bào là Tiểu Khu phó Tiểu Khu Thừa Thiên/ Huế.

Tôi đi về dãy lầu gia đình tôi đang tạm trú. Đi một đỗi, tôi mới chợt nhớ quên chào anh Hải.

Sau Tết Mậu thân, tôi tự động trình diện nhập ngũ. Tôi không thể nào chịu nổi cảnh tượng vào lớp thấy cả một nửa số học trò mang băng tang, nhà nào cũng có người chết: Cha chú, anh em hoặc cậu mợ… Người thì bị đạn lạc,vài ba người bị lính Mỹ, Đại Hàn, binh lính Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa bắn lầm, đạn lạc. Số đông là bị Việt Cộng giết, chôn sống, nhất là chôn sống, rất tàn nhẫn. Không ít người mất tích. Mất tích cũng coi như xong rồi. Mất tích có nghĩa là chết mà chưa có tin chắc chắn, ít ai được tha hay trốn về.

Vào lớp học nào tôi cũng thấy bọn học trò để tang. Một nửa lớp để tang: Con trai thì mang băng đen ở ngực; con gái không ít đứa 15, 17 tuổi quấn khăn tang ngang đầu. Câu thơ của Xuân Diệu: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” chỉ là cái đẹp trong văn chương, còn trong đời thực, đó là một hình ảnh hết sức đau lòng.

Trước ngày lên đường nhập ngũ, tôi ra sân trường Kiểu Mẫu thắp nhang cho con Thơ, cầu nguyện như câu mẹ tôi thường khấn: “Sống khôn thác thiêng. Cậu mợ ở với con không tệ! Xin con phù hộ cho người còn sống”.

Một năm sau, tôi về phép. Nhằm lúc đó có thông báo chính quyền yêu cầu thân nhân dời những ngôi mộ ở sân Trường Kiểu Mẫu đi nơi khác. Tôi nhờ mẹ tôi nhắn về làng cho mẹ con Thơ lên bốc mộ, đem về làng chôn. Hai hôm sau, tôi đưa mẹ con Thơ cùng hai người bốc mộ ra chỗ ngôi mộ. Bà đem theo một cái hòm bằng thiếc để đựng hài cốt con. Vừa thấy mộ con, bà ấy cất tiếng khóc thật ai oán: “Con ơi! Mạ (mẹ) cho con đi tránh súng tránh đạn, ai ngờ chừ (giờ đây) con ra nằm một chắc, một mình nơi ni… Biết rứa (thế) mạ để con ở già (nhà) với mạ để mạ con hôm sớm có dau (nhau)…”

Tôi nghiêng mặt qua một bên, cắn chặt môi để cầm nước mắt khi nghe tiếng khóc thê thảm ấy, với một cảm tưởng mơ hồ như tôi có trách nhiệm trong cái chết ấy, một sự gởi gắm không chính thức của người mẹ mà tôi đã không làm tròn.

Trong cuộc chiến tàn bạo nhứt chưa từng có trong lịch sử dân tộc nầy, quả thật không có nơi nào là chốn bình yên cho những người muốn trốn chạy nó…

Ba ngày sau khi chạy lên Trường Kiểu Mẫu, khi tôi đi lang thang trong khuôn viên trường thì gặp anh Càng, rể thầy trợ Hào, bạn đồng nghiệp cũ với thân phụ tôi. Nhà vợ anh phía sau nhà tôi ở Quảng Trị. Anh Càng là tài xế của trung tá Đô. Thời gian ấy, ông Đô du học ở Mỹ, anh ta ở nhà lái xe cho bà vợ ông, bà là người hôm ba mươi Tết, đến ăn tiệc ở nhà tôi. Anh Càng nói:

-“Anh Niệm chết rồi!”

Nghe tin, tôi tưởng như đất dưới chân tôi sụp xuống, hai chân tôi run rẩy, đứng không vững. Niệm là em rể tôi. Niệm hiện đang giữ nhiệm vụ thường vụ đơn vị, – Thiết Đoàn 7 Kỵ Binh, – đóng tại Trường Bia, sát dưới chân núi phía đông Ngự Bình.

Hôm 29 Tết, tôi về Quảng Trị một mình. Niệm đến thăm vợ chồng tôi. Vợ và 4 đứa con của Niệm đang ở Qui Nhơn, không về Huế ăn Tết với chồng. Thấy Niệm cu ki một mình nên vợ tôi biểu Niệm ở lại đón giao thừa và ăn Tết với vợ chồng tôi. Đang làm thường vụ, Niệm không thể bỏ đơn vị được. Chiều 29 Tết, Niệm về đơn vị.

Tối mồng 1 Tết, Việt Cộng tấn công vào Thiết Đoàn 7 nhưng không ăn nhằm gì cả. Đơn vị của Niệm chẳng ai chết hay bị thương. Việt Cộng bèn đổi chiến thuật. Thay vì tấn công vào đơn vị, chúng tấn công vào trại gia binh để gây lo lắng cho binh lính trong doanh trại. Đêm đó, Niệm trèo lên một chiếc xe tăng M-41, dùng súng đại liên 50, bắn liên tục vào vòng rào trại gia binh để ngăn chặn chúng. Bắn hết bốn, năm thùng đạn, Niệm nghỉ, nhưng vẫn ngồi trên xe tăng. Sáng sớm, trung tá Chí, thiết đoàn trưởng, được lệnh tướng Trưởng (lúc đó là đại tá) chỉ huy lực lương thiết giáp của thiết đoàn sang tiếp cứu Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đóng ở Mang Cá. Niệm được ở lại, không đi theo “xếp”. Khi trời sáng hẳn, anh ta ôm súng đi ra phía trại gia binh để kiểm soát xem đêm qua có ai bị thương hay chết chóc gì không. Khi vừa tới một góc nhà, Niệm bị một tên Việt Cộng núp ở đó bắn một băng AK vào người. Niệm bị thương ở bụng dưới. Binh sĩ xông ra đánh đuổi tên Việt Cộng và đưa Niệm vào đơn vị. Y tá chỉ băng bó nhưng không di tản thương binh được: Không xin được trực thăng tải thương, đường từ đơn vị đi Phú Bài vẫn chưa khai thông được. Niệm chỉ nằm chờ chết. Máu hòa nước tiểu cứ chảy ra hoài, y tá không cầm được, trong khi Niệm vẫn còn tỉnh. Tới chiều hôm đó thì Niệm kiệt sức và qua đời.

Đơn vị đánh điện vào Qui Nhơn báo tin cho vợ Niệm biết. Hai hôm sau, em gái tôi xin được máy bay quân đội Mỹ, ra Phú Bài rồi xin quá giang xe quân sự về Trường Bia. Bấy giờ thì đơn vị đã ra cửa hàng bán quan tài bên cạnh quốc lộ 1, kế đơn vị, mua quan tài về tẩm liệm cho Niệm. Em gái tôi cùng mấy anh em trong đơn vị an táng Niệm ở phía ngoài vòng rào đơn vị. Tình hình lúc ấy còn nặng nề, không dám đem đi chôn ở nghĩa trang, xa doanh trại.

Chôn cất chồng xong, em gái tôi xin dùng máy truyền tin của đơn vị, liên lạc với bà trung tá Đô, nhờ nhắn gởi lời thăm hỏi vợ chồng tôi. Lúc đó, đường vào Huế còn rất căng thẳng, nguy hiểm. Quân Việt Cộng còn phục kích ở chợ An Cựu, tấn công các xe hơi của binh lính Mỹ tiến vào thành phố.

Hoàng Long Hải

Đăng tải tại Đặc Biệt | Bạn nghĩ gì về bài viết này?