Tưởng niệm 50 năm Mậu Thân – HLH

Hồi ký Tết Mậu Thân ở Huế

Hoàng Long Hải

Bài 1 “Tấn Công Bất Ngờ”

Trước khi bắt đầu niên khóa 1967-68, tôi dọn về ở số 11 đường Phạm Hồng Thái, Huế. Nhà nầy gần ngã tư Nguyễn Tri Phương và Phạm Hồng Thái.

Trước mặt nhà tôi là doanh trại của đại đội Cảnh Sát Dã Chiến (CSDC) thuộc Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế. Toàn bộ khu vực nầy, từ phía trước nhà tôi đến đường Duy Tân (đường từ đầu cầu Trường Tiền về An-Cựu), phía trước trường trung học Nguyễn Tri Phương, phía tòa Khâm Sứ cũ sát bờ sông, là khu quân sự gồm khách sạn Thuận Hóa, tức MAC-V, “Bản doanh Phan Sào Nam” tức Tiểu Khu Thừa Thiên- Huế, Ty Cảnh Sát Thừa Thiên – Huế.

Khoảng một năm nay, đây là mục tiêu pháo kích của Việt Cộng. Có điều đáng nói là Việt Cộng pháo kích trúng mục tiêu thì ít mà trật ra ngoài thì nhiều. Đã có vài nhà dân trúng đạn, có người chết, bị thương. Vì vậy, khi thấy tôi dọn về đây, vài người bạn đến chơi, cằn nhằn: “Dọn về đây chi cho nguy hiểm.” Tôi nói đùa: “Khi nào nghe pháo kích khách sạn Thuận Hóa thì tới đưa tao đi nhà thương.”

Đêm mồng một tết Mậu Thân, tức là đêm 30 tháng 1 năm 1968, Việt Cộng pháo kích trật mục tiêu thật, và trúng ngay nhà tôi.

Tôi đang ngủ với đứa con gái lớn, 6 tuổi, thì giật mình vì những tiếng nổ lớn, hơi xa xa và nghe tiếng đạn đi. Trong phút chốc, tôi nghĩ: “Chết cha! Đạn đang tới ngay mình”. Tôi từng chạy tản cư năm 1946-47, có ít nhiều kinh nghiệm về súng đạn, mặc dù hồi ấy tôi mới 10 tuổi. Hễ đạn “cà-nông”, nghe tiếng đạn đi thì yên tâm. Đạn sẽ nổ ở xa. Còn tiếng đạn súng cối réo bên tai là nổ ngay chính chỗ của mình.

Và rồi viên đạn nổ ngay phía ngoài bức tường gạch dưới chân giường tôi. Tiếng nổ làm rung chuyển cả ngôi nhà. Nhà lợp ngói liệt nên khi ngói vỡ, cát từ trên mái tuôn xuống rào rào. Cửa trước bị giựt tung ra, thấy rõ bên ngoài. Ngoài đó đạn vẫn tiếp tục nổ ở sân trước, ngoài đường lộ, chớp sáng lóe lên, cảnh tượng ngoài ấy trông rõ lắm nhưng tắt đi rất nhanh. Điện bị cắt.

Tôi ngồi dậy, tung chăn. Đứa con gái tôi cũng dậy. Tôi nói với con: “Con vô hầm đi.”

Vì vùng nầy, như đã nói, thường bị pháo kích nên tôi có làm một cái hầm bằng bao cát ở căn phòng trống giữa phòng khách và nhà bếp.

Con tôi chạy đi. Tôi đi qua phía giường vợ tôi, đặt ở phía sau cái tủ đựng áo quần, tủ có kính soi. Tôi nghe có tiếng vợ tôi kêu cứu hơi xa xa, mơ hồ, có lẽ do cát đổ xuống phủ đầy chăn đắp. Thêm nữa, cái tủ đựng áo quần bị hất tung lên, đè lên vợ tôi, lúc ấy đang có bầu khoảng tám tháng, cùng đứa con gái thứ nhì và đứa con trai xuống dưới.

Không hiểu sao lúc đó tôi mạnh lắm. Nhờ ánh sáng đạn pháo kích đang nổ nên thấy rõ cảnh vật, tôi cần hai cái chân tủ hất sang một bên, kéo chăn và kéo vợ cùng hai đứa con ra. Chợt ngó lại, tôi thấy đứa con gái đầu thay vì chạy vào hầm, lại đang đứng sát bên chân tôi. Tôi hỏi: “Răng không vô hầm đi?” Con bé trả lời, khá rõ: “Con xệ (sợ) lắm!”

Vừa khi ấy thì ba đứa ở: Con Thơ lớn nhứt, đã 20 tuổi. Hai đứa kia nhỏ hơn, một đứa tên Lụt, em ruột con Thơ và con Nguyệt, nhỏ nhứt, ngủ dưới nhà bếp, chạy lên.

Con Thơ nói: “Con vô hầm rồi, không chộ (thấy) cậu mợ nên chạy ra ni.” Tôi bảo con Thơ dắt mấy đứa nhỏ vào hầm, tôi dẫn vợ tôi chạy theo.

Suốt trong thời gian ấy đạn pháo kích vẫn nổ ở sân trước và sân bên hông nhà, không trúng nhà tôi nữa. Vậy mà cả gia đình nhỏ của tôi không ai hề hấn gì, ngồi chen chúc trong cái hầm chật. Tôi ngồi phía ngoài, ngay cửa hầm.

Thằng con trai của tôi vẫn cứ khóc lè nhè từ nãy đến giờ. Tôi cứ ngỡ nó đau chân nên khóc.

Thằng bé mới hai tuổi, dễ thương và rất đẹp trai. Trước Tết mấy hôm, anh Ky, người cháu của vợ tôi, đang học y khoa ở Huế, đến chơi, thấy thằng bé kháu quá bèn bỏ nó lên xe vélo chở đi lòng vòng. Được một lúc thì thằng bé thọc chân vô căm xe, sưng vù, tôi phải đem đi bệnh viện bó bột và chích thuốc. Từ bữa đó đến giờ, vì cái chân bột nên thằng bé hay khóc. Không ngờ một lúc sau, vợ tôi nói: “Anh! Thằng cu Bảo bị thương, máu chảy sau đầu.” Con Thơ thường nhóm bếp nên bao giờ cũng thủ sẵn một cái bật lửa trong túi, lấy ra bật lên cho vợ tôi xem chỗ thằng bé bị thương. Xong, vợ tôi nói: “Rách một đường sau đầu, hết ra máu rồi, chắc không can chi!”

Nghe vợ giải thích, tôi yên tâm.

Bây giờ thì hết pháo kích nhưng đạn súng nhỏ nổ rền trời như người ta đang đốt pháo vậy. Tiếng đạn nổ lốp bốp nghe lạ tai, không phải thứ đạn như Garant M-1 mà tôi có bắn thực tập hồi còn học Cao Đẳng Quân Sự. Thỉnh thoảng, tiếng lựu đạn nổ chen vào như người ta đốt pháo giây có kèm theo pháo tống vậy. Lựu đạn nổ gần lắm, ngay phía ngoài cửa trước nhà tôi.

Nhờ cái hầm nằm ở căn phòng chếch qua một bên phòng khách nên không can gì, chỉ mỗi khi lựu đạn nổ thì cái hầm nhỏ của tôi rung rinh dữ dội. Sáng ra, tôi mới biết là Việt Cộng núp trong sân nhà tôi, tấn công vào cái “lô-cốt” (blockhaus) của Cảnh Sát Dã Chiến bên kia đường. CSDC phản công, bắn M-79 vào ngay sân nhà tôi mới ra cớ sự như vậy.

Súng nổ ran từng chặp rồi nghỉ khoảng nửa tiếng. Nửa giờ sau, có ba phát súng lệnh, súng đạn lại nổ rền, đợt tấn công mới lại bắt đầu. Lựu đạn của CSDC lại bắn vào sân nhà tôi.

Sau khoảng vài ba đợt tấn công thì có tiếng tù và thổi.

Con Thơ nói:

– “Rứa là họ rút lui đó cậu mợ.”

– “Răng mi biết?” Tôi hỏi.

Con Thơ giải thích:

– “Dưới làng con đánh dau (nhau), khi mô (nào) thổi tù và hay thổi còi là họ rút lui.”

Quả thật Việt Cộng rút. Trời sáng dần, mờ mờ.

Tôi bỗng nghe có tiếng người la to phía sân trước, hướng về phía trại CSDC:

– “Đừng bắn nữa nhé! Đừng bắn nữa nhé, tôi ra hàng nhé!”

Có tiếng mấy người lính CSDC bên kia đường la to, đáp lại:

– “Bỏ súng xuống! Bỏ súng xuống.”

Tôi cố lắng nghe tiếng người ra hàng để biết họ là người xứ nào. Đây là tiếng Bắc, không rõ tỉnh nào, nhưng ít ra cũng từ Thanh Hóa đổ ra. Sở dĩ tôi chú ý việc nầy vì năm ngoái, quân Việt Cộng tấn công vào thị xã Quảng Trị, thất bại, họ rút lui. Con đường tiến vào và rút lui là con đường hẽm phía sau nhà tôi. Ông anh tôi sợ Việt Cộng leo lên núp trên mái nhà, nghe họ vừa di chuyện vừa nói với nhau.

Tôi hỏi:

– “Họ nói giọng gì?”

Anh tôi cười, trả lời:

– “Bùi Xuân Lục.”

Bùi Xuân Lục là tên một người rể của dì tôi, quê ở Hà Tĩnh. Bà con bên ngoại tôi thường nhái giọng Hà Tĩnh để ghẹo anh ấy chơi. Tiếng Quảng Trị không nhẹ gì nhưng so với giọng Hà Tĩnh cũng còn đỡ hơn nhiều.

Thấy dứt tiếng súng, vợ chồng con cái chúng tôi ra khỏi hầm.

Việc trước tiên là vợ tôi ra tủ đựng bông băng lấy nước rửa vết thương cho con, xức thuốc và dán băng keo vào đó. Con Thơ xuống bếp, chuẩn bị nấu ăn.

Nó hỏi vợ tôi: “Nước máy không có, nước trong lu dớp (nhớp) lắm. Không có nước a mợ!”

Tôi đi xuống bếp, xem lại lu nước. Cát ngói từ trên mái nhà đổ vào lu. Tôi nói: “Gạn nước nầy mà nấu, đừng đi ra ngoài đường nghe không!” Con Thơ nghe lời tôi, gạn nước nấu cơm.

Trong khi đó thì vợ tôi lo dọn dẹp nhà cửa. Vì đêm qua đạn nổ, rung rinh căn nhà, nên chén bát, quần áo đổ nhào xuống nền nhà, cái bể, cái dơ, phải gom hết lại. Mấy cái mền (chăn) đắp tối hôm qua phải rủ bụi sạch để dùng lại, chưa giặt được. Cái chăn tôi đắp chung với con gái đầu thủng một lổ ở giữa. Mãnh đạn đi vào giữa hai cha con, không đụng nhằm ai cả.

Vợ tôi mừng nói:

– “Hú vía anh ơi! Mãnh đạn chui vô giữa mền mà không ai bị thương.”

Cái tủ áo quần có tấm gương soi, thì tấm gương bị bể nát. Có lẽ một miếng kính vỡ bay ra đụng nhằm thằng bé nên nó bị cắt một đường phía sau đầu. Cũng may, vết cắt không sâu.

Được một lúc, ông Hà Nguyên Chi, Phó Ty Cảnh Sát, nhà phía bên kia ngã tư, mang súng đi bộ qua nhà tôi.

Ông ta hỏi:

– “Khi hôm nghe bên ni súng nổ dữ lắm. Có ai can chi không?”

Tôi cám ơn và trả lời không ai việc gì cả. Trước khi ra về, ông ta còn dặn:

– “Đừng ra ngoài đường, Việt Cộng còn ở trên lầu trường Nguyễn Tri Phương.”

Một lúc, vợ tôi có việc gì đó, đi ra cái sân bên hông nhà. Khi vào nhà, vợ tôi nói:

– “Có miếng thịt mắc nơi cây bông hường.”

– “To hay nhỏ?” Tôi hỏi.

– “Cỡ hai chục đồng.” Vốn thực tế, vợ tôi nói.

Tôi thấy cũng buồn cười nhưng không nói gì. Thịt người chớ có phải thịt heo, bò ở chợ đâu mà ví như thế.

Hôm đó, tôi hơi buồn, cứ thắc mắc: “Mình bị pháo kích như thế nầy mà chẳng thấy anh bạn nào đến thăm cả. Ngoài đường có tiếng người lao xao một lúc, không biết người ta chạy loạn hay bọn trẻ tò mò đạp xe chạy quanh quan sát chơi.

Buổi chiều 30 tết, tôi tổ chức ăn tất niên tại nhà.

Trước đó một tuần lễ, một anh học trò nhà ở Vĩ Dạ, nói với tôi:

– “Năm ni ba em hạ một con bò thui. Thầy muốn mua thì em đem lên nhà cho thầy.”

Có bò thui và biết rằng sẽ được thịt ngon, tôi hỏi vợ tôi rồi mua mấy ký, tổ chức ăn tết với bạn bè. Trong các bạn tôi mời, có anh Hoàng Văn Xướng, bạn đồng nhiệp nhưng tôi kính mến như một người anh, tôi mời cả hai vợ chồng ông nầy. Vợ chồng anh bạn nối khố từ khi mới lên trung học: Lê Trọng Ấn, hiện làm hiệu trưởng trường trung học Tây Lộc, một bà trung tá, chồng đang du học ở Mỹ, bạn của vợ tôi, và anh Đoàn Công Lập, trưởng ty Cảnh Sát, quen thân vợ chồng tôi.

Tối hôm đó, anh Lập đến trễ lắm. Tôi đã tính không chờ nhưng các bạn biểu rán một chút. Ông trưởng ty mà ăn sau thì cũng kỳ!

Anh Lập tới thì vào bàn ngay. Trước khi cầm đũa, anh ấy xin lỗi đến trễ vì họp với bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 lâu quá – do đại tá Ngô quang Trưởng chủ tọa – Lúc ấy tướng Trưởng còn mang loon đại tá.

Anh Lập cũng cho biết là có tin Việt Cộng sẽ tấn công, không rõ mục tiêu ở đâu. Nghe vậy thì cũng hay vậy, không ai ngờ tối hôm sau, mồng một tết, Việt Cộng tấn công vào Huế.

Ngay khi anh Lập nói chuyện đó thì Việt Cộng cũng đã đột nhập vào thành phố đông lắm rồi. Vậy mà không ai biết cả hay sao?! Đánh giặc gì mà kỳ cục vậy. Tình báo ở đâu?!

Mới tiệc tùng vui vẻ đó mà bây giờ chẳng thấy ai, tôi nghĩ vậy và cũng hơi buồn.

Tối hôm đó, mới tối chúng tôi đã vào hầm, không dám ngủ ở bên ngoài. Trời sập tối một lúc lâu thì lại nghe ba phát súng lệnh, súng nhỏ và lựu đạn nổ rền trời. Khoảng một giờ đồng hồ thì dứt tiếng súng. Rồi lại có ba phát súng lệnh, mở đầu đợt tấn công mới.

Lần nầy vì Việt Cộng tấn công từ đầu hôm, không bắt đầu lúc quá nửa khuya như tối hôm trước, trận đánh kéo dài quá nên tôi lo lắng và thấy bực bội lắm. Suốt đêm ngồi bó rọ trong hầm như thế nầy lại súng đạn rền trời thì chịu đời sao thấu.

Tối nay lại có tiếng máy bay bay phía trên và có tiếng súng từ trên máy bay bắn xuống. Đó là loại máy bay Hỏa Long. Máy bay Hỏa Long bắn suốt đêm cho tới sáng bạch, ngay trên lầu trường trung học Nguyễn Tri Phương.

Cứ sau đêm tấn công, ban ngày Việt Cộng rút về ẩn núp ở đây. Súng Hỏa Long sáu nòng, bắn dữ dội nên trường Nguyễn Tri Phương bị trốc hết mái.

Cũng gần tới sáng, lại có tiếng tù và thổi như đêm trước, tôi thấy khỏe, yên lòng một chút.

Trời sáng, chúng tôi lại chui ra khỏi hầm, dọn dẹp nhà cửa.

Đêm nay, Việt Cộng không núp trong nhà tôi mà sát ngoài hàng rào phía trước, cách nhà khá xa nên chúng tôi khỏi lâm vào cảnh bị lựu đạn nổ như đêm trước, không còn pháo kích nên nhà cửa cũng không bị hư hại gì thêm.

Tôi nói với vợ tôi:

– “Mình chạy lánh nạn chỗ khác đi. Đêm nào cũng đánh nhau vậy, chịu không thấu đâu!”

Nghe lời tôi, vợ tôi chuẩn bị chạy giặc. Nửa giờ sau, chúng tôi bồng bế nhau ra khỏi nhà.

Tôi cõng bé Diễm, 4 tuổi, đứa con gái thứ ba (Kể theo trong Nam) trên lưng, tay dắt đứa thứ hai, chị cả. Vợ tôi có bầu, bụng đã to nhưng tay cũng bế thằng con trai. Con Thơ gánh một gánh đồ ăn đem theo, phòng bị đói. Hai con nhỏ kia, mỗi đứa một ôm mền mùng và quần áo cho cả gia đình.

Ra tới sân, thấy cảnh tượng ở đó, vợ tôi níu lấy tôi, không chịu đi, rên rỉ: “Ghê quá anh ơi!” Tôi nói với vợ: “Gắng lên, qua khỏi đây là hết. Không can chi!” Tôi nắm tay vợ, trong khi tay kia đã nắm đứa con nhỏ, cùng đi nhanh.

Trong sân, ngay gốc dừa là xác một chiến binh Việt Cộng, mặc quần áo bà ba đen, không có áo ấm, áo mưa gì hết. Tôi cũng không để ý có súng hay không. Phía ngoài cổng, sát hàng rào là ba xác chết khác, cũng nằm co quắp, ngoài bộ bà ba đen, không có áo ấm, áo mưa gì cả.

Tôi thắc mắc: Bộ đánh giặc nóng lắm hay sao mà không ai mặc áo ấm cả vậy trời. Hay họ không có áo ấm để mặc. Tôi nhớ năm 1947, hồi mới chạy tản cư, thỉnh thoảng, tôi có thấy Vệ Quốc Đoàn mặc áo trấn thủ, đâu có phong phanh cái áo bà ba như mấy anh Việt Cộng nầy.

Vừa ra khỏi ngõ, tôi lại thấy có mấy anh lính CSDC đứng bên hông “lô cốt”.

Có người nói:

– “Thầy có chi cho tụi em ăn với. Hai ngày nay đói lắm.”

Sở dĩ họ gọi tôi bằng thầy vì trong số đồng đội của họ, không ít người là học trò cũ của tôi.

Vợ tôi nói:

– “Có bánh tét, mấy em ăn không?”

– “Tốt lắm, tốt lắm cô. Cô cho vài đòn!”

Vợ tôi biểu con Thơ bỏ gánh xuống, lấy hai đòn bánh đi tới sát hàng rào, quăng vào cho họ.

Dự tính chạy về Chợ Cống, ngoại ô, tá túc nhà mấy người bạn, nên tôi hỏi:

– “Về Chợ Cống được không?”

– “Không được mô! Việt Cộng chiếm rồi thầy ơi!” Có người trả lời.

– “Vô thành nội được không?” Tôi lại hỏi.

– “Không được. Việt Cộng cũng chiếm rồi.” Lại có tiếng trả lời.

Không kịp suy nghĩ, tôi nói với vợ tôi: “Về Hàng Me.”

Đường Hàng Me cách nhà tôi hiện ở không xa, chưa tới nửa cây số.

Chúng tôi lúp xúp chạy, đường vắng hoe. Tới ngã tư có đường về sân vận động Tự Do, tôi thấy bên cạnh đường, kế gốc cây là xác hai người lính Việt Nam Cộng Hòa. Sau mới biết rằng hai người nầy về nhà ăn tết, nửa đêm nghe súng nổ, mặc quần áo đi bộ vào trại. Tới ngã tư nầy thì họ bị Việt Cộng bắn chết. Gia đình thân nhân chưa hay biết gì cả nên chưa chôn cất.

Tới đường Hàng Me, tôi ghé nhà bác Hoàng Xưởng, quen biết từ năm trước. Bác cũng có người con trai, học trò trường của tôi chứ không phải học trò tôi. Trước đây một năm, tôi cũng từng ở xóm nầy nên cũng quen biết nhau.

Bác ấy làm Công An (Cảnh Sát Đặc Biệt). Khu đường Hàng Me, vì trái đường, xa doanh trại quân đội nên chẳng có đánh chác gì ở đây cả. Vì không đánh nhau, bộ đội chưa tới thì cán bộ Việt Cộng cũng chưa mò tới dây, tình hình khác với chỗ khác là vậy.

Vợ bác Xưởng và mấy bà hàng xóm đang ngồi đánh tứ sắc. Thấy chúng tôi tới, họ nghỉ đánh bài, lấy đồ ăn dọn ra cho chúng tôi ăn.

Vợ chồng con cái chúng tôi và mấy đứa ở lần lượt thay nhau tắm rửa, thay quần áo, thấy khỏe khoắn và ăn ngon.

Nghĩ cũng buồn cười. Hai nơi cách nhau chưa được nửa cây số, nơi của tôi thì đánh nhau liền hai ngày đêm, điện nước không có, lại còn phải chui vào hầm trốn súng đạn suốt cả đêm. Nơi đây thì chẳng có gì hết. Súng đạn chỉ nghe xa xa vọng lại, giống như một xứ sở thanh bình, chẳng biết chiến tranh là gì cả.

Quá trưa, bác Xưởng qua nhà bên cạnh, hỏi thuê tạm cho gia đình tôi một chỗ trú chân. Nhà nầy chính là ngôi nhà tôi đã ở năm vừa qua.

Nói chuyện với chủ nhà xong, bác Xưởng nói với tôi:

– “Tui hỏi giúp anh chị lấy tạm một phòng nhà bên kia. Tối qua bên đó ngủ cho thoải mái.”

Được vậy, vợ chồng tôi mừng lắm, bèn mang đồ đạc qua nhà bên đó. Tôi vào hỏi thăm chủ nhà cho phải phép.

Vào tới nhà ông, tôi lại thấy buồn cười. Người đứng ra thay mặt chủ nhà cho thuê là ông Hoành, ông nầy làm sở Mỹ nên trông cũng khá giả, thoải mái. Khi tôi tới, ông đang ngồi ở sa-lông chơi với đứa con trai, miệng ngậm ống vố, hút thuốc Seventy-Nine thơm lừng. Tôi tự trách thầm. Học hành như ông nầy, chẳng tới đâu mà sướng vậy. Còn như mình, làm thầy giáo, chẳng bao giờ giàu, chỉ đủ ăn, giặc giã chạy loạn, tay dắt tay ôm, sao mà khổ thế!

Cũng vì ý nghĩ đó nên sau Mậu Thân, nhập ngũ rồi, ra đơn vị, tôi cũng học thói mỗi khi có thì giờ thì ngồi “vếch đốc củ tỏi” mà hút ông vố, thuốc Seventy-Nine thơm phức cho khỏe với đời một chút vậy!

Tối hôm đó, tôi ngủ ngon, mặc dù vẫn còn nghe súng nổ ở phía nhà cũ. Súng nổ xa, biết đạn sẽ không tới chỗ mình nên yên giấc suốt đêm.

Bài 2 “Tập Trung”

Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy thì trời đã sáng hẳn. Quang cảnh thật yên lặng, có tiếng người ngoài sân nhưng ngoài đường thì vắng. Tôi đi ra sân.

Ông cụ Chất, thân sinh của tướng Toàn, nhà ở bên kia hàng rào ximăng, đang kéo một ống giây nylon cho nước dùng qua sân chúng tôi vì cụ thấy bên phía nhà tôi nhiều người đang chéo réo vì nước máy không có.

Ông cụ là người tốt bụng, sinh sống ở đây đã lâu, mọi người đều kính mến.

Trong khi nhiều người đang loay hoay lấy nước thì có đứa trẻ nói: “Việt Cộng kìa!” Tay đứa trẻ chỉ lên hướng sau nhà, phía đường Đội Cung, trường Kiểu Mẫu. Người mẹ, – tôi đoán vậy – rầy đứa con: “Chỉ chỏ nó thấy nó bắn cho bây chừ.”

Thật ra, cũng không đáng lo như vậy. Tên Việt Cộng đang lom khom bò trên nóc dãy nhà dài hơi xa sân nhà tôi. Đó là dãy nhà cho thuê, ngó ra đường Đội Cung.

Tên Việt Cộng bò ra tới cuối nóc nhà thì ngừng lại. Có lẽ từ chỗ đó y quan sát phía bờ sông, chỗ bến cảng mới của lính Mỹ. Bỗng có tiếng súng lớn từ phía bờ sông bắn lên, có cả đạn lửa nên tôi thấy rõ đạn đạo bay về phía tên Việt Cộng. Anh ta vội vàng chạy tháo lui. Không rõ anh ta đi dò thám lính Mỹ hay thất lạc đơn vị.

Sau khi ăn sáng xong, tôi nói với vợ tôi:

– “Để coi yên yên, anh về nhà lấy cái T.V.”

Vợ tôi hốt hoảng:

– “Thôi anh! Nguy hiểm lắm, không đi được mô!”

– “Để chút nữa coi tình hình ra sao!” Tôi nói. “Nếu có người ta đi thì mình đi. Còn như đường vắng lắm thì thôi.”

Ngưng một chút, tôi lại nói: “Về lấy cái TV cho con nó coi. Nhà không cửa nẻo gì hết, người ta lấy mất thì biết bao giờ mới mua lại được.”

Cách đây mấy tháng, khi Huế bắt đầu có đài T.V., tôi cùng vợ đi mua một cái T.V. hiệu Denon, 20 inches, về cho các con coi.

Lương thầy giáo như tôi, với cái T.V. giá 4 chục ngàn là to lắm. Vợ tôi phải tiết kiệm lắm mới mua được. Vừa mua cái xe Vespa, lại mua thêm cái T.V., tình hình tài chính chúng tôi kẹt lắm.

Vả lại, từ khi có T.V., không khí trong gia đình vui tươi, đầm ấm. Tối lại, cơm nước xong, chuẩn bị giường chiếu rồi, cả nhà xúm nhau lại ở phòng khách mà coi T.V. Chương trình tuy không dài vì đài T.V. mới có, cũng đủ cho cả nhà giải trí mỗi đêm.

Bên cạnh đó, thằng con trai hai tuổi của tôi rất mê T.V. Hễ thấy trời tối thì thằng bé trèo lên ghế xalông ngồi, miệng nói: “Mở Vi choi”. (Mở TV coi).

Có những buổi tối, hai vợ chồng tôi đi vắng, mấy đứa nhỏ cùng mấy con ở coi T.V. với nhau. Anh Khôi, người chúng tôi cho thuê một phòng ở phía ngoài, đi chơi về thấy mấy đứa con tôi ngồi coi T.V., anh rất vui. Có lần anh ấy nói: “Về thấy mấy đứa nhỏ ngồi xalông coi TV chăm chú, tôi có cảm tưởng như cảnh bên Tây. Đời sống văn minh sướng thật!”

Tôi kể lại chuyện “Mở V choi” cho vợ nghe, để thuyết phục cô ấy để tôi về nhà lấy cái T.V. đem theo kẻo sợ bị lấy mất.

Tới trưa, thấy ngoài đường có người đi lại, nói với vợ xong, tôi bèn gọi con Thơ đi theo tôi lấy cái T.V. về. Nó cầm theo cây đòn gánh. Thấy vậy, tôi hỏi:

– “Mi cầm theo đòn gánh làm chi?”

– “Dạ, con gánh T.V. về.” Con Thơ trả lời.

Tôi nói:

– “Cầm theo cái đòn gánh, lính tráng, Việt Cộng ở xa xa, nó tưởng mầy cầm cây súng, ria cho một băng là xong đời. Ngu! Đem cất đi.”

Nó đi theo tôi về nhà. Nhà trống hoắc, không cửa nẻo gì cả vì hôm đầu tiên đạn pháo kích làm bung cửa hết cả rồi. Cũng may, hôm dọn dẹp nhà cửa sau đêm đầu tiên Việt Cộng tấn công, vợ tôi đã tháo 4 cái chân TV, còn cái TV thì lấy mền bọc lại. Tôi chỉ việc buộc giây rồi lấy cây tre thọc ngang. Con Thơ phía trước, tôi phía sau, khiêng cái T.V. về.

Ra tới ngõ, tôi tránh không đụng nhằm mấy “bánh xà bông” nằm ngay giữa ngõ. Thật ra, đó không phải là xa-bông mà chính là chất nổ, có màu hơi vàng như xa-bông cục, mềm. Có một miếng bị bánh xe đạp cán lên, xà-bông lòi ra. Có khoảng ba bốn bánh xà-bông như vậy, mỗi tấm dài khoảng 3 tấc vuông, dày cở 4 phân, bên ngoài bọc nylon màu xanh. Mỗi tấm được chia làm bốn phần bằng nhau, mỗi phần có một ngòi nổ. Ngòi nổ lớn bằng đầu đũa, dài gần ngón tay, màu trắng. Bên cạnh đó, lại có thêm hai xác Việt Cộng nữa, vừa chết đêm qua.

Tôi đoán chừng là mấy tên nầy dự tính đem chất nổ đến phá cái lô-cốt bên kia đường. Chưa kịp xung phong thị họ đã bị CSDC bắn chết ở đây.

Mấy tấm xà-bông nầy mà nổ được thì cái lô-cốt kia coi như không còn gì, những ngôi nhà quanh đây không sập thì cũng đổ vách, nứt tường, không ít người chết, bị thương. Chuyện mới xảy ra tối qua, khi gia đình tôi đã chạy khỏi đây rồi. Hú vía!

Sau biến cố, tôi bỏ nhà nầy, không dọn về ở nữa. Tôi biết vợ tôi vốn nhát gan, thấy cảnh Việt Cộng chết nằm đầy ngoài sân, bên gốc dừa, ngay cửa ngõ, bên lề đường như vậy thì đêm nào cũng có ác mộng, không thể có sự bình an tâm lý được, nên phải kiếm nhà khác mà ở vậy.

Những gia đình trong khu vực, sau khi tình hình yên ổn, lục tục kéo về.

Bấy giờ hệ thống nước máy bị hỏng chưa sửa chữa kịp, nhiều nhà dùng nước mưa. Nước hứng từ mái nhà bà cụ già ở ngay chính giữa thấy có mùi hôi, không dùng được. Để tìm hiểu, người ta mới trèo lên mái nhà xem. Té ra có xác một anh Việt Cộng nằm chết ở đấy, giữa hai mái nhà trước và nhà sau gặp nhau, chỗ nầy có cái máng xối. Đạn trúng ngay đầu anh ta. Có lẽ anh ta trèo lên mái nhà để bắn sang phía bên kia đường. Bên kia bắn lại, đạn trúng ngay đầu khiến anh ta chết ngay tại chỗ. Gia chủ phải thuê người dọn xác, đem chôn.

Tôi về tới nhà trọ mới được một lúc thì có máy bay bay trên không, phát thanh lời kêu gọi của tướng Lãm, yêu cầu đồng bào hãy tập trung về trường Kiểu Mẫu để được quân đội bảo vệ.

Thế là ai nấy ùn ùn kéo nhau đi. Tất cả dân chúng ở xóm tôi đều lên trường Kiểu Mẫu, không ai dám đi theo đường bờ sông (đường Lê Lợi). Việt Cộng ở bên kia sông, (đường Trần Hưng Đạo) hễ thấy bóng người bên nầy, không phân biệt là ai, họ bắn qua. Có lẽ binh lính Việt Cộng không ai có bằng xạ thủ nên may mắn không ai trúng đạn, chết hay bị thương cả.

Vậy nên dân chúng đi con đường trong, con đường đi vào Ty Cảnh Sát, đường Trần Văn Nhung. Ty Cảnh Sát phải đập vỡ một khúc tường phía sau để đồng bào sau khi vào Ty Cảnh Sát, thì theo chỗ tường vỡ đó mà qua trường Kiểu Mẫu. Khi đi ngang cái vọng gác ngay cổng ty, chúng tôi thấy có một tên Việt Cộng nằm chết trong đó.

Tình thật, tôi nói: “Thằng Việt Cộng mập dữ.” Vợ tôi trả lời ngay: “Chết mấy ngày sình lên chớ mập chi!”

Vào tới trường Kiểu Mẫu, lúc ấy, trường thì rộng, người chưa đông, nên dễ kiếm chỗ nghỉ. Chúng tôi chọn một lớp học ở tầng lầu hai, vào dọn chỗ nghỉ ở đó. Mấy người quen cũng dần dần kéo vào, càng lúc càng đông. Người đi tới, kẻ đi lui, chuyện trò, náo nhiệt.

Tôi dặn cả nhà cứ ở trong phòng, đừng ra ngoài, đề phòng Việt Cộng ở bên sông bắn qua hay pháo kích. Chiều lại, con Thơ cùng một đứa nhỏ khác theo giúp, xuống giếng, – Cái giếng cũ, khá lớn, đào từ hồi Tây còn đô hộ – lấy nước, vo gạo, nấu cơm. Cũng may, khi chạy giặc, phòng xa, vợ tôi có biểu mấy con ở đem theo một cái lò nấu bằng dầu hôi.

Chiều lại, cơm nước xong, trời tối dần. Người đi lại đã thưa, rồi im lặng hẳn, ai nấy đã đi ngủ. Bình yên.

Sau nửa khuya, tôi nghe một tiếng nổ rất lớn, hơi xa, không biết là chuyện gì. Một lát sau, có tiếng người ngoài hành lang nói: “Cầu Trường Tiền sập rồi.” (Đây là đề tài để sau nầy nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng sáng tác bài hát “Chuyện một cây cầu đã gãy.”)

Tôi đi ra hành lang, thấy có mấy người đang đứng ở đó, nhìn về hướng cây cầu trên sông Hương. Tuy trời tối, nhưng cũng trông thấy được: Cầu Trường tiền có sáu vài, hai vài giữa, chỗ nối nhau đã rơi xuống sông, giống như hình chữ V. Tôi nghĩ thầm, mai mốt lấy chi mà hai bên qua lại.

Năm 1946, khi Hồ Chí Minh kêu gọi “Toàn dân kháng chiến”, cầu đã bị giật sập một lần, cũng chính là hai vài cầu ấy. Sau khi Tây chiếm lại thành phố Huế, hai vài sập được bắt tạm bằng cầu sắt Eiffel, hẹp hơn, lót ván, xe cộ qua lại hai chiều không được, phải chờ nhau ở đầu vài cầu hẹp. Khoảng năm 1953, cầu đã được sửa chữa lại, bằng hai vài cầu mới, rộng như cũ, đúc ximăng. Việc giao thông trở lại bình thường.

Bấy giờ cầu được đặt tên mới là cầu Nguyễn Hoàng. Phần đông người Huế biết ông Nguyễn Hoàng là ai nhưng chẳng ai gọi nó là cầu Nguyễn Hoàng. Người ta cứ tên cũ: Trường Tiền mà gọi.

Nếu kể xa hơn nữa thì hồi trận bão năm Thìn (1902), cầu Trường Tiền hồi đó không biết làm bằng gì mà bão thổi bay mất, sau làm mới như bây giờ, đúc sàn bằng ximăng. Vì vậy, sau trận bão năm ấy, Huế có câu ca dao:

Chợ Đông Ba đem ra ngoài dại,

Cầu Trường Tiền đúc lại ximăng.

Chợ Đông Ba ngày xưa nằm phía ngoài cửa Đông Ba, chỗ sau nầy gọi là vườn hoa Đông Ba. Sau trận bão ấy, chợ dời ra ở ngã ba sông Hương và sông đào Hàng Bè. Còn chuyện “đúc lại ximăng” thì như trên, tôi đã kể.

Khi thấy cầu sập, đám người đang đứng ở hành lang lúc ấy, bàn chuyện và tỏ ý buồn. Tuy nhiên, có ai đó nói một câu được coi như an ủi, làm phấn chấn mọi người.

Người ấy nói: “Việt Cộng thua rồi.”

Nghe câu nói ấy, tôi cũng thấy vui một chút vì “Việt cộng thua.” Tôi thấy được cái lý lẽ của câu nói. Một lúc sau, đi ngủ lại, tôi nằm bên vợ tôi. Vợ tôi hỏi:

– “Chi vậy anh?”

– “Cầu Trường Tiền sập rồi!” Tôi nói.

Vợ tôi chưng hửng:

– “Cái gì? Cầu Trường Tiền sập? Việt Cộng giựt sập?”

Tôi an ủi vợ:

– “Việt Cộng giựt sập. Họ cũng sắp thua, chắc họ rút sớm thôi!”

Vợ tôi hỏi tới:

– “Răng anh biết?”

Tôi giải thích cho vợ nghe:

– “Nếu họ trên đà chiến thắng, họ giựt sập cầu làm chi! Giựt sập cầu là sợ quân mình bên nầy tiến qua.”

Nghe tôi nói có lý, vợ tôi làm thinh, ngủ tiếp.

Gần sáng thì người đi lại xôn xao ngoài hành lang, bàn tán ồn ào về chuyện cầu Trường Tiền bị sập.

Con Thơ lại thức dậy, xuống giếng lấy nước đem lên cho các con tôi rửa mặt, rồi nấu mì gói cho cả nhà. Trong khi đó thì vợ tôi lo thay quần áo cho các con.

Đến gần trưa, vợ tôi nói:

– “Mình về thôi anh. Ở đây phức tạp quá!”

Tôi không đồng ý, hỏi:

– “Tối lại thì sao?”

– “Nếu êm thì mình ngủ ở nhà, thấy không êm thì mình lại vô đây.”

Chiều ý vợ, chúng tôi xếp đặt đồ đạc, ra về.

Lần nầy, chúng tôi về bằng đường bờ sông (đường Lê lợi) không đi đường qua ty Cảnh Sát như trước.

Bây giờ, đường nầy người đi lại cũng đã đông. Khi đi ngang bến tàu của Mỹ, có chiếc trực thăng đang bay phía trên đầu, bắn hỏa tiển vào vị trí Việt Cộng bên kia sông, chỗ ngôi miếu ngay ngã ba sông Hương và sông đào Hàng Bè, bên phía Gia Hội. Tiếng hỏa tiển xịt lửa ngay trên đầu đã thấy ghê mà tiếng nổ ở bên sông rất dữ dội.

Vợ tôi kinh hãi quá, níu lấy tôi, rên rỉ: “Sợ quá anh ới! Ghê quá anh ới!” Tôi quan sát và thấy việc trực thăng bắn hỏa tiển bên sông, không ảnh hưởng gì tới bên nầy, bèn an ủi vợ: “Họ bắn bên tê, có can chi tới mình đâu!”

Rồi tôi đưa cả gia đình tôi về ngôi nhà mới thuê. Chiều hôm đó, thấy không yên tâm ngủ ở ngoài nầy, chúng tôi lại vào trường Kiểu Mẫu, trở lại chỗ cũ.

Bài 3 “Phản công”

Tôi không rõ lực lượng Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh bắt đầu phản công từ lúc nào. Thật ra, ngày đầu tiên, khi gia đình chúng tôi chạy tới đường Hàng Me thì lính Mỹ đã từ Phú Bài kéo về tăng cường phòng thủ Huế, căn bản là giữ khu vực Khách Sạn Thuận Hóa.

Bên phía Hữu Ngạn sông Hương nầy, Mỹ chỉ giữ được khu vực Khách Sạn Thuận Hóa. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì cũng chỉ giữ được Tiểu Khu Thừa Thiên – Huế, (tức “Bản Doanh Phan Sào Nam” cũ), Ty Cảnh Sát QG Thừa Thiên/ Huế và Đài Phát Thanh Huế.

Ngay doanh trại CSDC trước mặt nhà tôi, chỗ có cái lô-cốt, bị Việt Cộng tấn công dữ dội, mấy ngày sau, khi gia đình tôi chạy khỏi nơi nầy rồi, lính CSDC ở đây cũng rút về ty, bỏ trống doanh trại nầy. Ngoài ra, toàn bộ “Quận Hữu Ngạn” đều bị Việt Cộng chiếm hết.

Trong Thành Nội, nghe nói còn giữ được thành Mang Cá, gồm Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 và Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương.

Ngay hôm đầu, vài tên du kích Việt Cộng vào được trường Đại Học Khoa Học (Khách Sạn Morin cũ). Chúng xuất hiện tại mấy cái cửa sổ trên lầu khu đại học nầy, phía đường Duy Tân, bắn xuống Tiểu Khu.

Quân phòng thủ Tiểu Khu bắn trả dữ dội, bằng nhiều loại súng, đại liên 30 đặt trên bờ thành cao, sát trường Kiểu Mẫu, và cả M-79, nên bọn chúng hốt hoảng rút lui, không dám xuất hiện bắn lén nữa.

Có lẽ lực lượng vào được Morin quá ít, nên chúng không tấn công, bắn phá gì nhiều. Ngay cả đài phát thanh, ngang với khách sạn Morin, bên kia đường Lê Lợi, cũng không bị Việt Cộng khuấy rối.

Phần đông, Việt Cộng chiếm Kho Bạc (Ty Ngân Khố), như người ta nói, có lẽ là để lấy tiền, và Bưu Điện, lẻ tẻ một ít tên ở Ty Y-Tế. Người nói lại rằng Việt Cộng tưởng Ty Y Tế có nhiều thuốc men nên tính vào đó lấy thuốc. Chúng không biết rằng ở đó chỉ là bộ phần hành chánh, chỉ toàn giấy tờ mà thôi.

Anh Đoàn Công Lập Trưởng Ty Cảnh Sát, hôm tôi chạy lên trường Kiểu Mẫu, gặp tôi, anh cũng cho biết hai hôm đầu, anh ở tại Đài Phát Thanh Huế. Sau đó, tình hình khá hơn, anh về lại trụ sở ty cùng với các anh em khác hiện đang phòng thủ ở đó.

Thấy tình cảnh gia đình tôi đang chạy giặc, anh sai lính mang đến cho một bao gạo năm chục ký. Nhờ vậy nên trong những ngày đầu chạy giặc, tôi khỏi lo gạo ăn.

Khi đồng bào được lệnh tập trung về trường Kiểu Mẫu, vài xe tăng Mỹ, loại M-24/ Chaffee, trang bị súng canon Beauford 75 ly có sức tàn phá dữ dội, từng nổi tiếng trong Thế Giới Chiến Tranh thứ Hai, xuất hiện ở ngã tư Duy Tân – Lê Lợi, ngay đầu cầu Trường Tiền.

Hôm sau, trên đường Lê Lợi, hai chiếc xe tăng (tank M-24), một chiếc phía trái, một chiếc phía phải yểm trợ nhau, có “bộ binh tùng thiết”, dọc theo đường Lê Lợi mà tiến dần lên phía ga xe lửa.

Để ý, một hai ngày đầu, không hiểu vì thiếu lực lượng hay vì lý do gì, tôi thấy buổi sáng thì xe tăng và bộ binh Mỹ từ từ tiến lên, cứ nhắm vào cửa sổ những ngôi nhà lầu hai bên đường Lê Lợi như Nha Công Chánh, Ty Y Tế, bắn phá ầm ầm. Bộ binh núp sau xe tăng tiến theo.

Cứ đại bác bắn phá dữ dội như vậy, Việt Cộng nào chịu nỗi mà không rút lui.

Tuy nhiên, cũng những ngày đầu, tôi có cảm tưởng lính Mỹ đi đánh giặc mà giống như công chức đi làm việc: Sáng tiến lên, chiều rút về, tập trung phòng thủ ở vườn hoa bên bờ sông, ngang tòa Khâm Sứ cũ. Cứ mỗi sáng tiến lên lại bắn phá vào những ngôi nhà cao hai bên đường, nhà cửa nào mà còn, lại hao hụt lính tráng chết hoặc bị thương. Chỉ mấy ngày sau, mới thấy họ tiến đi luôn, buổi tối không rút về nữa.

Tôi chỉ quan sát được bên phía gần bờ sông, còn phía trong, phía Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế, (nơi tôi dạy học), Kho Bạc, nhà Giây Thép thì không rõ tình hình như thế nào.

Có điều đáng buồn là khi quân Mỹ tấn công theo đường Hoàng Hoa Thám, ngang trường Tiểu Học Lê Lợi thì họ bắn sập hoàn toàn Lớp Mẫu Giáo mới xây của ngôi trường nầy.

Đây là lớp học năm đầu tiên của con gái đầu lòng của tôi. Vì vậy, sau khi yên giặc, đưa con đi học lại, không bao giờ tôi đi ngang qua chỗ lớp Mẫu Giáo đó. Tôi sợ khung cảnh ấy sẽ gây nên một ấn tượng buồn bã trong tâm hồn trẻ thơ của con tôi. Có ai vui gì khi thấy lớp học đầu tiên trong đời mình đã bị chiến tranh tàn phá đổ nát, tan hoang như vậy.

Nhìn chung, dù con tôi hay những đứa trẻ khác, chiến tranh là nỗi kinh hoàng của trẻ thơ Việt Nam, ở ngoài Bắc hay trong Nam cũng vậy thôi.

Có điều khác, tôi chỉ muốn tránh cho con tôi thấy khung cảnh chiến tranh tàn phá ấy chớ không dạy cho con lòng hận thù những người phe bên kia!

Những người cầm súng chiến đấu, xông pha tên đạn, chết chóc hay bị thương, ai cũng đáng thương cả. Đáng trách, chính là ở những người hậu phương yên bình nhưng chính là người gây ra chiến tranh, là người xô đẩy người khác đem thân vào cảnh chết chóc ấy, thay cho bản thân họ hay con cháu họ, nhưng lại ngụy danh bằng những mỹ từ.

Quân Mỹ giải tỏa tới đâu, đồng bào ở đó bồng bế nhau chạy về tập trung ở Trường Kiểu Mẫu. Ban đầu là dân chúng ở khu vực Nha Công Chánh, khu Bến Trảng Hề, khu nhà lao động phía sau Kho Bạc, – tức khu lao động có tiệm bún bò Chị Lợi nổi tiếng ngon -, rồi dần tới khu Bệnh Viện Trung Ương Huế.

Bệnh viện dời về, chiếm tầng dưới của một tòa nhà trường Kiểu Mẫu, bệnh nhân cũng được đưa về đó. Tất cả nhân viên, bác sĩ, y tá cũng về đây.

Ngày mồng 9 Tết, khu vực Bến Ngự được giải tỏa, đồng bào lũ lượt kéo về tập trung ở trường Kiểu Mẫu.

Thật ra, mấy ngày hôm trước, đồng bào có nghe được lời kêu gọi của Tướng Lãm phát trên máy bay, nhưng không ai thoát ra khỏi khu vực được vì Việt Cộng cấm không cho ai đi đâu cả.

Trong số đồng bào chạy về lánh nạn ở đây, người ta nói có em gái Hoàng Phủ Ngọc Tường, cô nầy đang làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Ngự. Các em gái của Trịnh Công Sơn và gia đình y cũng chạy về đây!

Dân chúng không thích những người nầy vì anh em Tường, Phan thì theo Việt Cộng, Sơn thì viết nhạc phản chiến, (lúc ấy, mấy ngày đầu, người ta chưa rõ lắm chuyện người Huế bị giết oan hay những hành động tàn ác của Việt Cộng cũng như đám Tường, Phan khi Việt Cộng chiếm thành phố Huế gần một tháng dài).

Vì không thích, vì không ưa, không muốn thấy mặt họ nên mới có chuyện bàn tán trong dân chúng về sự có mặt của các gia đình nầy trong khu vực những người chạy nạn Cộng Sản. Theo Cộng Sản để rồi chạy nạn Cộng Sản. Điều người ta muốn nói là ở chỗ đó. “Cõng rắn cắn gà nhà”, mà em út mình bị rắn cắn trước!

Trong số đồng bào từ Bến Ngự chạy về, tôi gặp một vài người bạn rất thân.

Gặp được nhau, lại mừng rỡ và kể “chuyện chạy giặc”.

Anh bạn đồng nghiệp Nguyễn Trọng Từ kể: Ông Quận Trưởng Cảnh Sát Võ Phú đoán biết thế nào Việt Cọng cũng vào bắt ông, nên ông Võ Phú leo tường qua trốn bên nhà bếp của Từ. Khi Việt Cộng đến xét nhà, nhà Từ không bị xét vì tên học sinh làm giao liên cho Việt Cộng nói rằng “hai nhà nầy là hai ông giáo sư”. Tên cán bộ – nói giọng Bắc – không biết giáo sư là gì, phải hỏi lại. Tên giao liên phải nói rõ “giáo sư là thầy giáo”. Bọn chúng bỏ đi. Nhờ vậy mà ông Võ Phú thoát. Mạng ông còn to, dù sau 1975, ông qua đời trong tại cải tạo, cũng còn có được một chỗ đất chôn, chứ không bị chôn sống, không biết chôn nơi nào như những người bị bắt hồi Tết Mậu Thân. (Con trai đầu của ông Cụ Võ Phú là dược sĩ Võ Thành Tân, nguyên là học sinh của tôi niên khóa 1958-59, hiện làm chủ nhà Thuốc Tây Saigon ở Toronto).

“Hai ông giáo sư”, một là Nguyễn Trọng Từ, một là anh Hoàng Văn X., (xin được giấu tên). Anh X. lớn tuổi hơn tôi và Từ, học trước một lớp, cùng dạy học một trường, là người tôi và Từ rất yêu kính.

Trong cuộc bầu cử Tổng Thống và Thượng Nghị Viên năm 1967, anh cùng với Ông Nguyễn Hữu Trí, Giáo Sư Đại Học Huế và Cụ Hồ Ứng Dần, nguyên Phó Tỉnh Trưởng Thừa Thiên, thời kỳ Ngô Đình Diệm, làm “Đại diện cho Liên Danh 9” là Liên Danh ứng cử tổng thống và phó tổng thống của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ. Nhờ anh làm việc trong “Ban Tham Mưu”, không xuất hiện trước quần chúng, nên bọn Việt Cộng nằm vùng không biết việc làm của anh. Nếu biết, chắc anh ấy nay không còn.

Khi anh X. cùng vợ con chạy về trường Kiểu Mẫu, gặp tôi anh mừng lắm. Mấy ngày sau, tôi nói với anh rằng tôi hết tiền, mượn anh một ít tiêu đỡ. Anh bảo: “Moa còn 9 trăm, “moa” đưa cậu 5 trăm. Khi nào trả cũng được.”

Sau đó, tôi nhập ngũ, không trả món nợ cho anh. Sự việc không phải là mấy trăm bạc. Trong hoàn cảnh đang chạy giặc, dĩ nhiên tiền bạc khó khăn, mà chia nhau như vậy thì cái tình cảm ấy quí hiếm lắm. Sau nầy, bạn bè biết chuyện, ai ai cũng khen anh ấy có lòng với bạn bè. Quả thật, sau nầy “làm lớn” trong Phủ Tổng Thống, có quyền, anh giúp đỡ bạn bè hết lòng. Chuyện đó là “hậu Mậu Thân” nên không kể vô đây làm chi.

Điều đáng buồn là chúng tôi, bạn bè đồng nghiệp, dạy cùng một trường trên dưới 10 năm, gian nan cùng gánh, vui buồn cùng chia. Sau biến cố Tết Mậu Thân, chúng tôi lần lượt bỏ trường, mỗi người một nơi. Tôi đi xa nhất, về tận Hà Tiên. Bạn bè biết tôi đi quá xa, ai cũng thương tình.

Trong số những người chạy từ Bệnh Viện Huế về, tôi cũng gặp hai vợ chồng anh Đào Hải. Cả hai vợ chồng đều là y tá bệnh viện. Vợ anh là bà con bên vợ tôi.

Anh Hải cùng vợ đang làm việc ở bệnh viện thì trận giặc xảy ra. Sợ pháo kích, hai vợ chồng về núp ở một cái hầm xây ximăng rất lớn, phía sau Ty Bưu Điện. Hầm nầy được xây từ thời Nhựt để nhân viên và gia đình Bưu Điện núp máy bay Mỹ đến oanh tạc.

Khi lính Mỹ bắt đầu phản công, có hai cán binh Việt Cộng hớt hãi chạy vào núp ở hầm nầy với đồng bào. Được môt buổi, hai cán binh đem súng B-40 dấu ngoài hàng rào, cởi bỏ quần áo bộ đội, xin áo quần của dân chúng mặc vào, cùng chạy giặc với đồng bào. Tuy nhiên, khi về tới trường Kiểu Mẫu, hai anh cán binh nầy biến mất. Người ta nói là hai anh cán binh nầy sợ bị đồng bào tố giác.

Lính Mỹ phản công hai mặt. Mặt tiến lên hướng tây, giải tỏa từ Ty Y Tế lên dần tới Bến Ngự, Nam Giao, Ga Huế và đi sâu về phía Tân Nam… Một mặt, tiến về hướng đông, xuống Sân Vận Động Tự Do, chợ Cống. Suốt ngày đêm súng nổ ì ầm. Vợ chồng con cái tôi, ngày thì về nhà ăn uống, tắm rửa. Tối lại thì lên trường Kiểu Mẫu ngủ cho an toàn.

Ngay bữa đầu tiên mới về nhà, anh Vĩnh Nghị, học trò cũ của tôi, hiện là CSDC đến thăm.

Anh ta nói:

– “Mấy hôm đầu, Việt Cộng tấn công. Em núp trong lô-cốt, bắn M-79 vào nhà thầy.”

Tôi cười, nói đùa:

– “Cám ơn anh. Hèn chi nhà tui cửa nẻo vách tường, chẳng cái nào còn nguyên.”

Nghị nói, sôi nổi:

– “Tại vì có ba bốn thằng núp ngay nhà thầy. Hai đêm liền như rứa (vậy). Không bắn vào đó là không yên với chúng. Chúng núp trong nhà thầy bắn ra chính xác lắm.”

Tôi cũng lại đùa:

– “Tụi nó bắn chính xác đâu không thấy nhưng anh bắn cũng không dở lắm đâu. Năm sáu cái xác Việt Cộng nằm ngay trong sân nhà tôi.”

Một chốc, tôi hỏi tiếp:

– “Cái thằng “Tôi ra hàng nhé” đâu rồi?”

Nghị đáp, mặt khá tĩnh:

– “Chết rồi!”

– “Sao vậy?” Tôi hỏi.

– “Bọn em giải giao cho Tiểu Khu.” Nghị nói. “Bên đó có thằng lính vừa nghe tin anh nó bị Việt Cộng giết, nổi sùng, nó lấy rựa chém chết thằng Việt Cộng.”

Tôi bàng hoàng:

– “Sao ác vậy! Nguời ta đầu hàng thì thôi. Ai lại vác rựa chém chết. Làm như vậy là vi phạm luật pháp quốc tế đó.”

– “Cũng có người can nó! Ai cũng nói như thầy.” Nghị giải thích. “Nhưng nếu như ai có người anh bị Việt Cộng giết như nó, chắc cũng làm như nó thôi. “Máu chảy ruột mềm” mà thầy! Thầy làm nghề dạy văn chương, luân lý, hay nói lý thuyết. Thực tế, nhiều khi trái ngược.”

Tôi làm thinh, cũng thấy thông cảm phần nào cho người lính có anh bị giết.

Một lúc, để tránh sự im lặng nặng nề, tôi lãng sang chuyện khác:

– “Ông” đi đâu mà bữa nay mang súng Garant? M-16 đâu rồi?”

– “Súng nầy bắn được xa. Thấy mấy thằng Việt Cộng chạy lui chạy tới bên đường Trần Hưng Đạo mà ngứa mắt. Em ở bên nầy sông, thấy thằng nào, em ngắm súng Garant thiệt kỹ, nã cho một phát, nó biến mất. Mười thằng như một!”

Tôi nói đùa:

– “Chắc nó đi gãi ngứa chớ gì?”

– “Không đâu!” Nghị cười. “Tụi nó về chầu tổ Mác-Lê hết.”

Ngồi chuyện vãn với tôi một lúc, vợ tôi dọn cơm cho Nghị ăn.

Đang ăn, Nghị khen:

– “Cơm ngon quá, mấy bữa nay, em không về Vĩ Dạ được, ăn uống tào lao không!”

Nghị là người Hoàng phái, cha mẹ ở Vĩ Dạ, xóm của mấy ông hoàng, bà chúa.

Tôi hỏi:

– “Hai đòn bánh tét, anh có ăn không?”

Nghị nói, hào hứng:

– “Ngon quá! Ngon quá! Em chưa bao giờ ăn bánh tét ngon như bữa đó.”

– “Tại “ông” đói quá chớ gì?” Tôi góp ý.

– “Vừa đói lại vừa ai làm bánh ngon quá.” Bỗng Nghị hỏi vợ tôi: “Cô mua hay cô nấu?”

Vợ tôi chỉ cười mà không nói. Tôi trả lời thế cho vợ:

– “Cô nấu đấy. Năm nào cô cũng nấu. Nhà có bao nhiêu người đâu, nhưng cô ưa nấu, đãi bạn bè ăn chơi. Cô chẳng học nghề ai cả mà nấu cũng ngon. Tài không?”

– “Ngon thiệt! Em thiệt tình, không nịnh cô đâu!”

Nói xong, anh ta cười, tôi cũng cười theo!

Một lúc sau, Nghị hỏi tôi:

– “Ông Trưởng Ty là bạn thầy phải không?”

– “Bạn sao được!” Tôi nói. “Ông hơn tui cả chục tuổi, sao có thể bạn bè. Nhưng có quen thân.”

– “Tụi bạn em nó “xì xầm” về ông ta đấy.” Nghị nói.

– “Xì xầm gì? Chuyện ông ta có vợ bé chớ gì. Cô ấy là học trò cũ tui.”

– “Em biết! Không phải chuyện đó. Chuyện ông ta tránh mặt qua Đài Phát Thanh khi Việt Cộng tấn công.” Nghị giải thích.

– “Tui có nghe ông ấy nói với tui chuyện ông ở bên Đài! Tui hiểu rồi; đừng nói nữa, mất lòng.”

Cuối năm rồi, trong cuộc vận động tranh cử giữa “Liên Danh 9 Thiệu -Kỳ” với “Liên Danh Bông Lúa” của Đại Việt, ở quận Phú Vang, có sự xung đột gay gắt giữa hai phe; ông Lập đứng ra giải quyết rất khéo léo, những người trong cuộc, ai cũng khen ngợi ông. Đêm mồng một Tết, không rõ trước hay sau khi Việt Cộng tấn công, ông tránh mặt qua đài Phát Thanh, Huế. Ông ta đề phòng, lỡ khi Việt Cộng chiếm được Ty Cảnh Sát, thế nào cũng tìm trưởng ty, thì ông đã “lặn” rồi. Còn như Việt Cộng chiếm Đài Phát Thanh, ông ta khai là nhân viên gì đó của đài, “an toàn tính mệnh” hơn không?

Bỏ anh em, đồng sự dưới quyền mà “dọt” lẹ, quả thật người ta “xì xầm” cũng phải. Tuy nhiên, sau nầy, ông Liên Thành nói ông Lập là “Việt Cộng nằm vùng” nghe càng trái tai hơn.

Chiều hôm đó, có một toán Thủy Quân Lục Chiến của ta đến khu vực tôi. Vài người vào sân nhà tôi. Hình như có một tiểu đoàn vừa từ Saigon ra tăng cường cho Huế. Một anh đang lui cui bên hè nhà. Tôi đứng hỏi chuyện anh.

Bỗng anh ta hỏi:

– “Có nước sôi cho xin một ca.”

Tôi vào nhà lấy nước sôi cho anh ta. Anh mở bao sạo sấy, đổ nước vào, chuẩn bị ăn tối. Thấy vậy, tôi đi vào nhà hỏi vợ tôi có gì thì “tiếp tế” cho anh lính môt ít. Khi tôi cầm gói bánh chưng đi ra chỗ anh thì thấy anh ta đang cột bao gạo sấy lại, bỏ vào ba-lô.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– “Sao không ăn?”

Anh ta trả lời:

– “Có lệnh di chuyển gấp, không ăn kịp.”

Tôi đưa cái bánh chưng cho anh ta.

Nghe chuyện người lính chưa kịp ăn đã đi, ai ai cũng xót xa. Từ trước đến nay, chiến tranh diễn ra ở thôn quê, ở rừng già, người dân thành phố chỉ nghe nói chứ chưa thấy tận mắt. Nay thì rõ. Từ sáng đến giờ chưa ăn gì – như anh ta vừa nói – Bao gạo sấy chưa kịp ăn thì đã mang súng đạn lên vai, nặng nhọc bước đi. Ai không khỏi xúc động.

“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu” chỉ là cái hay trong văn chương. Việc ấy xưa quá, xa quá. Bây giờ, ở đây là đời thực, là hình ảnh người lính chưa kịp ăn, phải bỏ bao gạo sấy vào ba-lô mà lên đường hành quân. Điều nầy rõ ràng là rất đau xót, không thi vị một chút nào, không “văn chương thi phú” chút nào.

Anh cùng đồng đội tiến ra đường Hàng Me, hướng bờ sông, rồi quẹo về ngã Vĩ Dạ. Tôi chợt thấy đại úy Ngộ, một người bạn học cũ, ở lớp Đệ Tứ, là cấp chỉ huy đơn vị. Tôi kêu tên anh ta, thảng thốt. Anh quay lại nhìn tôi và cũng nhận ra tôi.

Tôi chạy ra, vừa kịp nắm tay thì Ngộ bảo:

– “Tao đi gấp, phải đem đơn vị qua Mang Cá gấp.”

Vì ngã cửa Thượng Tứ và Đông Ba chưa giải tỏa được nên tôi đoán hướng đi của đơn vị, hỏi:

– “Đi ngã Cồn Hến?”

Ngộ chỉ ừ rồi tất tả bỏ tôi, theo đoàn quân của anh.

Có lẽ toán quân của anh vượt sông Hương ở Vĩ Dạ, tàu Hải Quân sẽ đưa thẳng qua Bao Vinh rồi vào ngã cửa Trài của thành Mang Cá.

Ngộ đi rồi, tôi mới biết mình ngu! Ai người ta nói cho mình biết con đường người ta chuyển quân bao giờ. Nếu anh ta không nghi tôi là Việt Cộng thì ít ra, anh ta cũng có thể ngại tôi vô tình nói ra nên Việt Cộng biết được. Bí mật quân sự mà!

Đó là lần cuối cùng tôi gặp Ngộ, không biết về sau, cuộc đời chinh chiến của Ngộ như thế nào!

“Những người chinh chiến bấy lâu…

Nhẹ xem tính mạng như mầu cỏ cây”

(Chinh phụ ngâm)

Mấy hôm đó trời Huế mưa dầm nhưng ít có gió bấc nên trời không lạnh lắm.

Buổi trưa, tôi ra đầu đường Hàng Me, chỗ ngã ba nối với đường Lê Lợi, ngồi bên cột đèn ximăng, ngó qua cột cờ Ngọ Môn bên kia sông.

Trời mưa và không có gió nên “ngọn cờ nửa đỏ nửa xanh” rủ xuống, buồn thảm. Hình ảnh ấy làm tôi nhớ tới mấy câu thơ của Trần Dần trong bài “Nhất Định Thắng”:

Tôi bước đi

không thấy phố không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ

Đó là ngọn cờ trừ ma, là ngọn cờ ở Hà Nội, còn ở đây, Ngọ Môn, ngọn cờ ấy là ngọn cờ ma. Ma Việt Cộng, ma quỷ ám thành phố nầy trong những tết Mậu Thân.

Mấy hôm sau, đại bác từ Trường Bia bắn qua phố Trần Hưng Đạo, qua Thượng Thành, hai bên cửa Thượng Tứ để yểm trợ cho tiểu đoàn 2/3 (?) của thiếu tá Đính (?) đang giải tỏa khu vực nầy. Chiều lại, hai chiếc máy bay Phantom của Mỹ bay ngang thật thấp, bên phía nầy, bắn hỏa tiển và bỏ bom lên cửa Đông Ba. Cụ Chất (thân sinh của Tướng Toàn, như tôi có nói ở bài 1), đứng ở trong sân nhà cụ, thấy tôi đứng bên nầy sân, lầu bầu: “Bắt con chí mà phải cạo trọc cái đầu.”

Sau việc đơn vị Thủy Quân Lục Chiến của bạn tôi đã di chuyển, nhiều người dân ở phố Phan Bội Châu, Trần Hưng Đạo, chạy thoát được qua phía bên nầy sông.

Bên ấy, Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân của Đại Úy Võ Vàng đang đụng nhau với Việt Cộng dữ dội ở Chùa Áo Vàng, kế bên đường Võ Tánh (tên nôm na là Ô Hồ), rồi sau đó, cũng đơn vị ấy đánh bật quân Việt Cộng ra khỏi phi trường Tây Lộc. (Năm 1975, ông Võ Vàng là trung tá, bị Việt Cộng giết ở Quảng Ngãi. Ông nổi tiếng là sĩ quan tài ba thuộc binh chủng Biệt Động Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông là học trò mà cũng là chồng của chị Nguyễn Thị Đường, nhà ở dốc Nam Giao. Chị là bạn học của tôi năm Đệ Nhất (1957-58), chị tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm và có thời gian làm hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi.)

Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân ghi được những chiến công vẻ vang trong những ngày phản công chiếm lại thành phố Huế, là một đơn vị nổi tiếng, ai ai cũng biết và hết lời khen ngợi.

Tình hình phía bờ sông bên kia, – đường Trần Hưng Đạo – dần dần được yên. Quân Việt Cộng bị đánh đuổi ra khỏi khu vực tả ngạn, ngoại trừ khu Gia Hội.

Hai ngày sau khi đơn vị Thủy Quân Lục Chiến rút đi, có một chiếc xe tăng có 6 nòng đại bác, mỗi bên 3 nòng. Chiếc xe tăng chỉ lớn hơn chiếc xe Jeep chút đỉnh mà có tới 6 nòng đại bác. Chiếc xe lục cục chạy ra bờ sông, phía dưới “Tân Cảng” của lính Mỹ một chút, gần khách sạn Hương Giang của “cậu” Cẩn.

Chiếc xe tăng quay về hướng nhà thờ Gia Hội và lần lượt hết nòng súng nầy đến nòng súng khác, nổ từng phát về phía đó.

Tôi tò mò đứng ở phía bên nầy đường coi thử xe tăng bắn cái gì.

Một chốc, cái tháp chuông nhà thờ Gia Hội không còn nữa. Như vậy có nghĩa là quân Việt Cộng núp ở tháp chuông bên ấy, bắn lén sang bên nầy, hay chỉ điểm cho Việt Cộng pháo kích bên nầy.

Khi đạn nổ ngay vào tháp chuông, không biết ông cha nhà thờ bên ấy lo lắng sợ hãi ra làm sao! Mới năm trước, vì chuyện ứng cử của “Liên Danh Sư Tử Cầm Bút” của giáo sư Vũ Quốc Thúc, vào Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa, vì là đại diện cho liên danh nầy, tôi có qua gặp ông linh mục ấy để nhờ một chuyện.

Linh mục rất tử tế, niềm nở chuyện trò với tôi. Rất tiếc là sau khi tôi đưa cho ông một số bích chương, theo lời dặn của Giáo Sư Phó Bá Long và Trần Long, thì số bích chương ấy không được dán lên như ông linh mục đã hứa, chẳng qua “Liên Danh Sư Tử Cầm Bút” không phải là “Liên Danh Bông Huệ” của mấy ông theo đạo Thiên Chúa ở Việt Nam.

Dù sao, ấn tượng gặp gỡ ấy làm cho tôi lo lắng cho ông khi thấy xe tăng Mỹ nhắm bắn sập tháp chuông nhà thờ bên ấy. Rồi còn đồng bào ở đường Trung Bộ – con đường chạy ngang trước nhà thờ – nữa chi.

Ở đó, tôi có biết bao nhiêu người quen biết.

Bài 4 “Chết chóc”

Từ ngày mồng 9 Tết, khu vực Bến Ngự, Nam Giao, Ga Huế lần lượt được giải tỏa, đồng bào trên đó chạy về. Bấy giờ thì Trường Kiểu Mẫu đông nghẹt, phòng nào phòng nấy đầy ắp người, kẻ đi tới, người đi lui, chuyện trò, trao đổi, v.v… ồn ào ngày đêm không dứt. Mãi tới khuya lắm, mọi người đều đi ngủ thì mới yên lặng được một chút.

Vì quân Mỹ đang phản công, quân Việt Cộng cố giữ nên hai bên đánh nhau rất căng, nhất là phía Chợ Cống, Sân Vận Động, súng nổ ran, bất kể ngày đêm. Vì vậy, gia đình nhỏ của tôi, không dám về nhà, ngày đêm đều ở lại trường.

Buổi chiều ngày mồng 10 tết, con Thơ ra giếng kéo nước rửa chén bát. Đây là cái giếng cũ, khá lớn, đâu từ thời Tây xây tòa Khâm Sứ ở đây. Giếng lúc đó hết sức đông, đứng lớp trong lớp ngoài, kẻ thì kéo nước, người thì chờ.

Trời sắp tối, một người lính thuộc Tiểu Khu lên ca gác, leo lên một cái chòi canh cao. Anh ta thử cây súng trung liên, bỗng súng cướp cò, nổ một phát đạn. Trong khi thử súng, anh ta vô ý chĩa ngay nòng súng về phía đám đông đứng quanh giếng. Phát đạn nổ ghim ngay vào đầu con Thơ.

Tôi đang ngồi bên cạnh vợ và các con thì có một cô gái nhỏ chạy tới nói:

-“Thầy cô ơi! Chị người làm của thầy cô bị trúng đạn ngoài giếng, đưa vô bệnh viện rồi.”

Tôi hốt hoảng chạy qua gian lầu được xử dụng tạm làm bệnh viện. Tình hình bệnh viện chạy loạn cũng lộn xộn không kém gì dân chúng. Tôi đi từ phòng này qua phòng khác tìm nhưng không biết người ta để con Thơ ở đâu. Cuối cùng, anh Đào Hải, y tá ở bệnh viện, vợ anh là bà con bên vợ tôi, tìm gặp tôi, nói:

– “Anh ở đây nhưng em mới qua gặp chị. Chị biểu đi kiếm anh. Chị khóc dữ.”

Tôi hỏi:

– “Con Thơ bị nặng không?”

– “Không sống nổi đâu! Đạn vô đầu.”

Tôi cũng thấy tuyệt vọng khi nghe nói đạn vô đầu. Anh Hải dẫn tôi vào phòng cấp cứu nhưng con Thơ đã được đưa ra nằm ngoài hành lang. Chúng tôi đi ra hành lang, thấy có một cái cáng đặt bên chân cầu thang. Anh Hải nói: “Nó đây!”

Người ta đắp lên mình con Thơ một cái mền bằng giấy, loại mền nầy do Mỹ viện trợ để dùng tạm, xài xong bỏ. Cái mền đắp kín mặt. Như thế, có nghĩa là nó đã chết. Anh Hải kéo cái mền giấy xuống khỏi mặt. Tôi thấy con Thơ còn thở ngáp, hỏi:

– “Chú Hải, còn thở ngáp mà!”

Hải nói:

– “Bác sĩ giải thích máu chưa tràn ra khắp não nên còn thở ngáp. Vài chục phút sau là chết hẳn. Có lẽ trong phòng chật quá, có rất nhiều người bị thương nên người ta đem ra đây những người không còn hy vọng gì.”

Tôi đứng nhìn xác con Thơ, trầm ngâm không biết nói gì, không kịp suy nghĩ gì, chỉ thấy lòng tôi đau đớn dữ dội, thấy tội nghiệp cho con nhỏ và cả cho cả mấy đứa nhỏ, kể cả ba đứa con của tôi. Sự việc diễn biến quá mau lẹ và hết sức xúc động nên tưởng như trí óc mình tê dại hẳn đi. Mới chiều ba mươi tết, bạn bè tập trung tại nhà tôi, ăn tất niên; tiệc tùng vui vẻ, con Thơ lăng xăng giúp vợ tôi lo tiếp khách. Thế mà nay nó chết rồi! Tôi nghĩ tới lời mẹ nó, một người đàn bà tôi chưa từng gặp, nói với mẹ tôi khi cho con Thơ làm con ở cho vợ chồng tôi: “Cho con lên tỉnh ở để tránh súng đạn. Mệ (tức là bà nội hay bà ngoại – tiếng miền Trung) cho bao nhiêu cũng được!”

Ở thôn quê, hai bên thường đánh nau dữ dội, bom đạn dữ dội. Ở thành phố yên lành hơn nên cho con đi ở để tìm chỗ yên lành hơn là cho con đi kiếm tiền đem về cho mình. Tội nghiệp cho người đàn bà thương con. Tôi cũng nghĩ đến mẹ tôi, rất thương con. Có lẽ mai đây, khi mẹ tôi gặp mẹ nó, nói tới cái chết của con Thơ, mẹ tôi cũng nghẹn ngào, thương xót người mẹ mất con nên không nói được chi! Trong tình mẹ thương con, không có ranh giới giữa hai người đàn bà đó, những người đàn bà khốn khổ mất con vì chiến tranh. Cách đây gần 20 năm, mẹ tôi cũng từng khóc anh cả tôi khi anh ấy, vừa 20 tuổi, như tuổi con Thơ bây giờ, bị Tây bắt và thủ tiêu vì tội “làm Việt Minh.” Những người làm mẹ, có lẽ biết thế nào là lòng thương con. Ai sinh con ra mà không nuôi, không thương, thì không thể nào hiểu được lòng mẹ thương con như thế nào!

Thấy tôi đứng lâu mà không nói gì, anh Hải nói:

– “Không có cách nào nữa đâu. Thôi tối rồi, đứng ngoài ni (nầy) nguy hiểm, anh về đi.”

– “Rồi việc chôn cất làm sao?” Tôi hỏi.

– “Anh đừng lo. Mọi việc bệnh viện lo.” Anh Hải nói.

– “Chôn ở đâu?” Tôi lại hỏi.

– “Chôn tạm phía bờ tường sát tiểu khu. Bây giờ không đi ra ngoài được. Chỗ nào cũng đánh nhau.” Anh Hải giải thích.

– “Không có hòm chi hết.” Tôi lại hỏi.

– “Không! Bọc cái mền giấy mà chôn. Ai cũng rứa (vậy). Hôm tê (kia) mới chôn ông Thiếu tá Bào, cũng rứa.” Anh Hải nói. Thiếu tá Bào là Tiểu Khu phó Tiểu Khu Thừa Thiên/ Huế.

Tôi đi về dãy lầu gia đình tôi đang tạm trú. Đi một đỗi, tôi mới chợt nhớ quên chào anh Hải.

Sau Tết Mậu thân, tôi tự động trình diện nhập ngũ. Tôi không thể nào chịu nổi cảnh tượng vào lớp thấy cả một nửa số học trò mang băng tang, nhà nào cũng có người chết: Cha chú, anh em hoặc cậu mợ… Người thì bị đạn lạc,vài ba người bị lính Mỹ, Đại Hàn, binh lính Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa bắn lầm, đạn lạc. Số đông là bị Việt Cộng giết, chôn sống, nhất là chôn sống, rất tàn nhẫn. Không ít người mất tích. Mất tích cũng coi như xong rồi. Mất tích có nghĩa là chết mà chưa có tin chắc chắn, ít ai được tha hay trốn về.

Vào lớp học nào tôi cũng thấy bọn học trò để tang. Một nửa lớp để tang: Con trai thì mang băng đen ở ngực; con gái không ít đứa 15, 17 tuổi quấn khăn tang ngang đầu. Câu thơ của Xuân Diệu: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” chỉ là cái đẹp trong văn chương, còn trong đời thực, đó là một hình ảnh hết sức đau lòng.

Trước ngày lên đường nhập ngũ, tôi ra sân trường Kiểu Mẫu thắp nhang cho con Thơ, cầu nguyện như câu mẹ tôi thường khấn: “Sống khôn thác thiêng. Cậu mợ ở với con không tệ! Xin con phù hộ cho người còn sống”.

Một năm sau, tôi về phép. Nhằm lúc đó có thông báo chính quyền yêu cầu thân nhân dời những ngôi mộ ở sân Trường Kiểu Mẫu đi nơi khác. Tôi nhờ mẹ tôi nhắn về làng cho mẹ con Thơ lên bốc mộ, đem về làng chôn. Hai hôm sau, tôi đưa mẹ con Thơ cùng hai người bốc mộ ra chỗ ngôi mộ. Bà đem theo một cái hòm bằng thiếc để đựng hài cốt con. Vừa thấy mộ con, bà ấy cất tiếng khóc thật ai oán: “Con ơi! Mạ (mẹ) cho con đi tránh súng tránh đạn, ai ngờ chừ (giờ đây) con ra nằm một chắc, một mình nơi ni… Biết rứa (thế) mạ để con ở già (nhà) với mạ để mạ con hôm sớm có dau (nhau)…”

Tôi nghiêng mặt qua một bên, cắn chặt môi để cầm nước mắt khi nghe tiếng khóc thê thảm ấy, với một cảm tưởng mơ hồ như tôi có trách nhiệm trong cái chết ấy, một sự gởi gắm không chính thức của người mẹ mà tôi đã không làm tròn.

Trong cuộc chiến tàn bạo nhứt chưa từng có trong lịch sử dân tộc nầy, quả thật không có nơi nào là chốn bình yên cho những người muốn trốn chạy nó…

Ba ngày sau khi chạy lên Trường Kiểu Mẫu, khi tôi đi lang thang trong khuôn viên trường thì gặp anh Càng, rể thầy trợ Hào, bạn đồng nghiệp cũ với thân phụ tôi. Nhà vợ anh phía sau nhà tôi ở Quảng Trị. Anh Càng là tài xế của trung tá Đô. Thời gian ấy, ông Đô du học ở Mỹ, anh ta ở nhà lái xe cho bà vợ ông, bà là người hôm ba mươi Tết, đến ăn tiệc ở nhà tôi. Anh Càng nói:

-“Anh Niệm chết rồi!”

Nghe tin, tôi tưởng như đất dưới chân tôi sụp xuống, hai chân tôi run rẩy, đứng không vững. Niệm là em rể tôi. Niệm hiện đang giữ nhiệm vụ thường vụ đơn vị, – Thiết Đoàn 7 Kỵ Binh, – đóng tại Trường Bia, sát dưới chân núi phía đông Ngự Bình.

Hôm 29 Tết, tôi về Quảng Trị một mình. Niệm đến thăm vợ chồng tôi. Vợ và 4 đứa con của Niệm đang ở Qui Nhơn, không về Huế ăn Tết với chồng. Thấy Niệm cu ki một mình nên vợ tôi biểu Niệm ở lại đón giao thừa và ăn Tết với vợ chồng tôi. Đang làm thường vụ, Niệm không thể bỏ đơn vị được. Chiều 29 Tết, Niệm về đơn vị.

Tối mồng 1 Tết, Việt Cộng tấn công vào Thiết Đoàn 7 nhưng không ăn nhằm gì cả. Đơn vị của Niệm chẳng ai chết hay bị thương. Việt Cộng bèn đổi chiến thuật. Thay vì tấn công vào đơn vị, chúng tấn công vào trại gia binh để gây lo lắng cho binh lính trong doanh trại. Đêm đó, Niệm trèo lên một chiếc xe tăng M-41, dùng súng đại liên 50, bắn liên tục vào vòng rào trại gia binh để ngăn chặn chúng. Bắn hết bốn, năm thùng đạn, Niệm nghỉ, nhưng vẫn ngồi trên xe tăng. Sáng sớm, trung tá Chí, thiết đoàn trưởng, được lệnh tướng Trưởng (lúc đó là đại tá) chỉ huy lực lương thiết giáp của thiết đoàn sang tiếp cứu Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đóng ở Mang Cá. Niệm được ở lại, không đi theo “xếp”. Khi trời sáng hẳn, anh ta ôm súng đi ra phía trại gia binh để kiểm soát xem đêm qua có ai bị thương hay chết chóc gì không. Khi vừa tới một góc nhà, Niệm bị một tên Việt Cộng núp ở đó bắn một băng AK vào người. Niệm bị thương ở bụng dưới. Binh sĩ xông ra đánh đuổi tên Việt Cộng và đưa Niệm vào đơn vị. Y tá chỉ băng bó nhưng không di tản thương binh được: Không xin được trực thăng tải thương, đường từ đơn vị đi Phú Bài vẫn chưa khai thông được. Niệm chỉ nằm chờ chết. Máu hòa nước tiểu cứ chảy ra hoài, y tá không cầm được, trong khi Niệm vẫn còn tỉnh. Tới chiều hôm đó thì Niệm kiệt sức và qua đời.

Đơn vị đánh điện vào Qui Nhơn báo tin cho vợ Niệm biết. Hai hôm sau, em gái tôi xin được máy bay quân đội Mỹ, ra Phú Bài rồi xin quá giang xe quân sự về Trường Bia. Bấy giờ thì đơn vị đã ra cửa hàng bán quan tài bên cạnh quốc lộ 1, kế đơn vị, mua quan tài về tẩm liệm cho Niệm. Em gái tôi cùng mấy anh em trong đơn vị an táng Niệm ở phía ngoài vòng rào đơn vị. Tình hình lúc ấy còn nặng nề, không dám đem đi chôn ở nghĩa trang, xa doanh trại.

Chôn cất chồng xong, em gái tôi xin dùng máy truyền tin của đơn vị, liên lạc với bà trung tá Đô, nhờ nhắn gởi lời thăm hỏi vợ chồng tôi. Lúc đó, đường vào Huế còn rất căng thẳng, nguy hiểm. Quân Việt Cộng còn phục kích ở chợ An Cựu, tấn công các xe hơi của binh lính Mỹ tiến vào thành phố.

Hoàng Long Hải

Bài này đã được đăng trong Đặc Biệt. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Mời bạn Góp Ý

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s