Thơ Trần Văn Lương

Đừng Đem Bố Về

Dạo:
Giặc còn tàn hại non sông,
Thì dù xương trắng vẫn không chịu về.

Cóc cuối tuần:
Dựa trên lời một vị lính già dặn dò con trai mình trước khi ông mất: “Chỉ khi nào nước mình hết Cộng sản thì con mới đem tro của Bố về quê chôn cạnh Ông Bà Nội”.

Con ơi hãy lắng nghe lời Bố dặn,
Sau khi mà Bố nhắm mắt xuôi tay,
Nhúm tro tàn, hãy tạm để nơi đây,
Đừng có vội đem ngay về chốn cũ.

Bố chỉ sợ con nghe người ta dụ,
Theo kết bè kết lũ để “thăm quê”,
Rồi tiện tay mang tro Bố trở về,
Để Bố lỗi lời thề khi bỏ xứ.

Nơi cắt rốn, ai mà không thương nhớ,
Ai không hề trăn trở bước lưu vong.
Nhưng con ơi, phải nghĩ đến non sông,
Đang đau đớn chờ mong ngày giải thoát.

Tháng Tư đó, quê hương mình tan nát,
Bao nhiêu người gạt nước mắt ra đi.
Lòng dặn lòng, trong giây phút phân ly,
Còn giặc Cộng, quyết thề không trở lại.

Lời khấn nguyện, Bố hằng ghi nhớ mãi,
Và dẫu lòng luôn khắc khoải xót xa,
Bố quyết tâm không phản bội quê nhà,
Dù khi đã hóa ra người thiên cổ.

x x x

Về sao được khi quê cha đất tổ,
Còn trong tay đám hổ báo sài lang
Đang đê hèn làm nô lệ ngoại bang,
Nhưng độc ác hung tàn cùng dân Việt.

Làm sao Bố yên tâm dù đã chết,
Khi dân Nam vẫn rên siết trong tù,
Từ học trò, tu sĩ đến nông phu,
Chỉ vì “tội” chống kẻ thù xâm lược.

Vong hồn Bố làm sao siêu thoát được,
Khi đau lòng nhìn đất nước thân yêu,
Bỗng trở nên, trong một sớm một chiều,
Nơi sản xuất rặt những điều tồi tệ.

Xã hội đã suy đồi từ gốc rễ,
Già lưu manh, đến trẻ cũng lưu manh,
Người với nhau chỉ lừa đảo tranh giành,
Cả đất nước biến thành hang trộm cướp.

Dù kẻ khác về ăn chơi nườm nượp,
Nhưng mình không làm thế được, con ơi.
Nhìn khắp nơi tội ác vẫn ngập trời,
Ai là kẻ không bồi hồi phẫn chí.

Làm sao mà an nghỉ,
Khi mộ phần bao chiến sĩ miền Nam
Bị bọn cầm quyền độc ác gian tham,
Muốn cướp đất, đã san thành bình địa.

Nỗi đau càng thấm thía,
Khi thấy người chạy mất vía năm nao,
Nay trở về thật diêm dúa bảnh bao,
Cùng nhăn nhở, ồn ào nâng chén cạn.

Làm sao mà thanh thản,
Khi phải nhìn đứa bạn ngày xưa,
Nạng gỗ mòn, ống quần rỗng đong đưa,
Khay vé số dầm nắng mưa kiếm sống.

Làm sao không tuyệt vọng,
Khi chung quanh tràn ngập bóng quân thù,
Ngoan ngoãn tuân theo lệnh của Tàu phù,
Hung hăng gác căn nhà tù vĩ đại.

Làm sao không tê tái,
Khi dân mình cứ mãi gánh khổ đau.
Và dù cho ở tận đáy mộ sâu,
Người chết cũng phải gục đầu than khóc.

Chỉ đem Bố trở về khi dân tộc
Có nhân quyền và độc lập tự do,
Người người đều được áo ấm cơm no,
Không còn bị loài Cộng nô thống trị.

Con hãy nhớ những lời này thật kỹ:
Bao lâu bầy Cộng phỉ vẫn thong dong,
Gót chân Tàu còn giẫm nát non sông,
Thì mình vẫn quyết một lòng son sắt.

Con ơi nếu Trời xanh kia quá quắt,
Bắt dân mình vĩnh viễn mất quê hương,
Thì chút tro tàn của kiếp tha phương,
Đổ giùm Bố, đừng tiếc thương giữ lại.

x x x

Mộng cứu nước bao năm rồi chưa toại,
Lối quay về, ngàn quan ải cách ngăn.
Trong đêm đen, đôi khóe mắt nhọc nhằn,
Nỗi đau đớn thầm lăn trên má lạnh.

Trần Văn Lương
Cali, Quốc Hận 2016

Son Hằn Trên Tóc Bạc

Dạo:
Vết son trên tóc còn hằn,
Phất phơ một thoáng ăn năn muộn màng.

Cóc cuối tuần:

Vết son đỏ hằn trên tóc bạc,
Đôi mắt già dáo dác láo liên,
Bần thần tiếc nuối không yên,
Mỉa mai ngọn gió bên hiên xầm xì.

Thầm nghĩ mình ngu si quá đỗi,
Đi tin người đáng tuổi cháu con,
Mày ngài, má phấn, môi son,
Lại thương ông lão đã non thất tuần.

Quên căn cước thuyền nhân tỵ nạn,
Hùa kéo bè kết đảng lang thang,
Nhởn nhơ áo gấm về làng,
Vung tiền trợ cấp vênh vang lòe đời.

Gặp khách già ham chơi trống bỏi,
Nàng “chân dài” sành sỏi ra tay,
Chỉ trong nhấp nháy mấy ngày,
Con nai bảy bó rơi ngay vào tròng.

Nàng ỏn ẻn cố công làm nũng,
Một rằng “anh”, hai cũng rằng “anh”.
Nhìn đôi mắt ướt long lanh,
Hồn già như cưỡi mây xanh mấy từng.

Con tim héo tưng bừng mở hội,
Thầm tự khen đến buổi xế chiều,
Lại còn gặp được “tình yêu”,
Hí ha hí hửng quyết liều đưa chân.

Biết bao lần thân nhân ngăn cản,
Bạn bè cùng can gián lắm khi,
Nhưng lòng đã muốn ra đi,
Lo chi tình nghĩa, sá gì trúc mai.

Trau chuốt mảnh hình hài khú đế,
Chưng diện đồ như thể diễn viên,
Nhướng mày nhíu mắt làm duyên,
Nói cười tựa gã thiếu niên phát cuồng.

Sung sướng được sổng chuồng về xứ,
Cho bõ ngày lữ thứ lưu vong.
Cháu con giờ cũng tạm xong,
Tiền già rủng rỉnh thong dong mặc tình.

Ly dị vợ, một mình giong ruổi,
Đem căn nhà bán vội chia đôi,
Cầm về sắm sửa cơ ngơi,
Chủ quyền cho đứng tên người tình con.

Trốn biệt bạn bè còn kẹt lại,
Vì lòng luôn e ngại gặp người
Cùng nhau chiến đấu một thời,
Nay đang chịu cảnh đổi đời đắng cay.

Vui thụ hưởng từng giây từng phút,
Của mang về vùn vụt sang tay.
Một ngày thức giấc chợt hay,
Tiền nong đã chắp cánh bay qua cầu.

Người tình nhỏ giờ đâu biệt tích,
Chỉ công an đến tịch thu nhà.
Chủ quyền tên của người ta,
Tên mình chẳng có, xót xa ra đường.

Ôm trọn nỗi đau thương về Mỹ,
Tìm gia đình năn nỉ ỉ ôi.
Nhưng dù gãy lưỡi mòn môi,
Vợ con nhất quyết trọn đời không tha.

May mắn được vô nhà dưỡng lão,
Sáng trưa chiều trệu trạo miếng ăn,
Đêm dài mộng mị trôi lăn,
Hoang mang nẻo nhớ, nhọc nhằn lối quên.

x x x

Vết son vẫn hằn trên tóc bạc,
Chốn mơ tàn, lác đác sao rơi.
Trong căn phòng trọ cuối đời,
Có người ngồi nắn tuổi trời mà đau.

Trần Văn Lương
Cali, 2/2016

 

THU KHONG NIEM GUI BAN

Thư Không Niêm Gửi Bạn

Thay lời một vị thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đang kẹt ở VN gửi người bạn cũ ngày xưa đã vượt biên, nay lại viện dẫn đủ mọi lý do để về VN vui chơi….

Gửi nhờ tập vé số trên tay,
Chống nạng đến đây để gặp mày.
Hụt hẫng thấy mày ngồi giữa quán,
Đang cùng bầy cán bộ vui say.

Không muốn bị mang tiếng quấy rầy,
Khi lòng đang thất vọng chua cay,
Nên đành mượn tạm vài trang giấy,
Viết bậy đôi câu gửi tới mày.

Mày hãy cùng tao nhớ lại ngày,
Cùng mày trong bóng tối chia tay,
Mày thề rằng nếu Trời cho thoát,
Mày ắt không quên mối hận này.

Từ đó, trong đau đớn dập vùi,
Bọn tao mòn mỏi đợi tin vui.
Ngờ đâu hạnh phúc lùi xa mãi,
Nghĩ đến quê hương lại ngậm ngùi.

Mày trở về chơi đã lắm lần,
Lúc thì viện cớ gặp người thân,
Lúc theo “từ thiện” tìm danh vọng,
Hí hửng vô tròng bọn ác nhân.

Hàng vạn hàng trăm các hội đoàn,
Tranh đua làm thiện thật gian nan.
Hân hoan vì chút hào quang giả,
Họ đã an nhiên giúp bạo tàn.

Mày cũng lần theo đóm múa may,
Hết quà lại cáp phát rền tay.
Tiền Tây, tiền Mỹ xài như rác,
Lầu các thi nhau mọc dẫy đầy.

Mày biết dân đây được những gì,
Khi đoàn cứu trợ đã ra đi?
Đất đai ngập lụt, nhà tan nát,
Ngơ ngác trên tay một gói mì!

Biết chăng vì những đứa như mày,
Sự thật quê nhà chẳng chịu hay,
Hãnh diện ta đây về “cứu viện”,
Nên bầy quỷ đỏ hiện còn đây.

Mày có biết mày đã tiếp tay,
Nuôi dân cho chúng để rồi nay,
Chúng càng thêm có đầy phương tiện,
Để khiến dân ta mãi đọa đày.

Cả bầy chúng vẫn sống xa hoa,
Xuất ngoại đầu tư, sắm sửa nhà,
Con cái tiêu ra hàng bạc triệu,
Đồng tiền đó liệu lấy đâu ra?

Mày so với chúng được bao lăm,
Tỷ phú tiền Tây chúng cả trăm.
Của cải một thằng trong Bắc phủ,
Thừa nuôi dân sống đủ nhiều năm.

Phải chăng vì cật ấm cơm no,
Mày lại mơ màng chức vị to,
Nên mới trở cờ o bế giặc,
Qua sông ngoảnh mặt với con đò?

Tao xót xa nhìn lũ bạn thân,
Ngày xưa vượt biển lắm gian truân,
Nay khuân tiền bạc về quê cũ,
Góp sức nuôi bè lũ hại dân.

Bạn mình giờ lắm kẻ giàu sang,
Áo gấm xênh xang rộn xóm làng.
Có đứa vênh vang bằng cấp lớn,
Hùa theo lũ ngợm chống Cờ Vàng.

Có thằng may mắn lắm đồng ra,
Thơ thới về đây, bỏ vợ nhà.
Có đứa làm sui gia với giặc,
Ra ngoài trở mặt líu lo ca.

Thấy miệng mày thoa mỡ nói năng,
Lòng tao chua xót chợt hay rằng,
Xuống thuyền mấy đứa đêm hôm đó,
Giờ đã “vinh quy” đủ bấy thằng!

Tao tưởng bao năm ở nước ngoài,
Chúng mày phải biết rõ hơn ai,
Ngày ngày đọc thấy nhiều tin tức,
Sao lại vô tâm được thế này?

Lần cuối cho tao nói một lời:
Nếu còn người trở lại ăn chơi,
Đua đòi danh lợi, buôn “từ thiện”,
Thì chớ mơ chi chuyện vá trời.

Nắng chiều cuốn xác lá trôi,
Bóng đôi nạng gỗ đơn côi ngược dòng.

Trần Văn Lương

Hãy Chụp Giùm Tôi

 

Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,

Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,

Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,

Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.

 

Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,

Mà bạn nghĩ đang trên đà “đổi mới”,

Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,

Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ.

 

Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,

Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.

Đất nước đã từ lâu không khói lửa,

Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh.

 

Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình,

Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,

Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,

Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơị

 

Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,

Của những kẻ đã một thời chui nhủi,

Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,

Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.

 

Đừng khoe tôi những con phố “bưng biền”,

Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,

Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,

Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.

 

Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,

Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,

Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,

Đang uốn mình theo gió đón hương baỵ

 

Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,

Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,

Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,

Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.

 

Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,

Đã được bạn tóm càn vô ống kính,

Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,

Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.

x

x      x

Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,

Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,

Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,

Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.

 

Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,

Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,

Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,

Bị bán làm nô lệ ở phương xa.

 

Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,

Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,

Khóc con cháu ra đi từ năm đó,

Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.

 

Chụp giùm tôi số phận những thương binh,

Đã vì nước quên mình trên chiến trận,

Mà giờ đây ôm hận,

Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.

 

Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,

Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,

Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,

Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.

 

Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,

Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,

Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,

Chở cha, anh lao động Mã Lai về.

 

Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,

Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,

Hay cảnh những anh hùng không uốn gối,

Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.

 

Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,

Lấn vào đất của ông cha để lại,

Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,

Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.

 

Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,

Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.

Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,

Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.

x

x      x

Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,

Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,

Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,

Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.

 

Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,

Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.

Rồi tha phương lữ thứ,

Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.

 

Lòng người chóng nguôi ngoai,

Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ!

Trần Văn Lương

Cali, đầu mùa Quốc Hận, 2010

Tiếng Nấc Đêm Trừ Tịch

Dạo: 
Nhởn nhơ áo Tết về quê,
Biết chăng dân Việt trăm bề đớn đau.

Đêm trừ tịch, gian phòng lạnh ngắt,
Người đàn bà cúi mặt trầm ngâm.
Nghẹn ngào tủi phận thương thân,
Có chồng mà phải đón Xuân một mình.

Rồi khẽ nhấc bức hình trên kệ,
Ngắm hai người son trẻ năm nao,
Mà nghe thất vọng dâng trào,
Hùa theo tiếng nấc, lệ dào như mưa.

Anh yêu hỡi, giao thừa đã đến,
Lệ em cùng lệ nến tuôn rơi.
Anh về quê mẹ vui chơi,
Tha hương em xé lịch vơi một mình.

Anh giờ chắc lềnh bềnh tửu quán,
Phè phỡn cùng đám bạn mềm môi,
Chén anh, chén chú, chén tôi,
Quên phăng cái thuở xa xôi nhọc nhằn.

Anh có nhớ những năm tù ngục,
Giặc đem anh lăng nhục từng ngày?
Bạn anh, chúng giết thẳng tay,
Anh may sống sót lất lây nhờ Trời.

Anh có nhớ quãng đời vất vả,
Sau khi anh được thả về nhà?
Chạy ăn từng bữa xót xa,
Trẻ con đói rách, người già điêu linh.

Anh có nhớ công trình vượt biển,
Bị mắc lừa mấy chuyến mới xong?
Nhìn dân mình chết biển Đông,
Có là gỗ đá mới không đau sầu.

Anh có nhớ buổi đầu trong trại,
Trơ mắt nhìn lũ Thái hung hăng?
Bị hành, chẳng dám nói năng,
Âm thầm chỉ biết cắn răng sượng sùng.

Anh có nhớ khai cùng Di Trú,
Vì sao lìa quê cũ sang đây?
Mà nay dạ đổi lòng thay,
Đang tâm trở mặt quên ngay lời thề.

Anh kiếm cớ đi về lắm bận,
Dựng chiêu bài quanh quẩn ăn chơi,
Lúc thì “từ thiện” giúp đời,
Lúc thì “báo hiếu” cho người thân yêu!

Trở lại Mỹ, sớm chiều “hát dạo”,
Thay kẻ thù quảng cáo liên miên,
Rằng quê mình rất bình yên,
Rằng dân mình sống ấm êm trăm bề.

Anh có biết anh về sung sướng,
Vung tiền còm thụ hưởng tiện nghi,
Trong khi dân phải ra đi
Làm thân nô lệ cu li nước ngoài?

Anh chỉ thấy đền đài tráng lệ,
Cùng quán hàng lắm kẻ vào ra,
Mà không thấy cảnh dân ta,
Ngày đêm khổ ải xót xa muộn phiền.

Anh chỉ thấy bạo quyền hùng hổ,
Ra oai hùm nạt nộ múa may,
Mà không mở mắt để hay,
Chủ quyền toàn ở trong tay giặc Tàu.

Anh có thấy đâu đâu cũng Chệt,
Đang nghênh ngang chiếm hết quê mình?
Phần do lũ thú Ba Đình,
Phần do những kẻ vô tình như anh.

Anh chỉ thấy bầy doanh nhân Việt,
Cùng anh về yến tiệc hả hê,
Mà không thấy ở bên lề
Những đồng đội cũ đang lê thân tàn.

Anh có thấy trại giam khắp chốn,
Nơi công an làm khốn bao người?
Vì lòng yêu nước không nguôi,
Họ cam tâm gánh cả trời khổ đau.

Chồng em hỡi, từ lâu em gắng,
Tránh buông lời nói nặng cùng anh.
Nhưng nay gương đã tan tành,
Chút duyên chồng vợ, em đành xin quên.

Em cương quyết làm viên ngọc vỡ,
Theo sao trời rực rỡ đêm đêm,
Còn hơn làm phiến ngói nguyên,
Quanh năm xám xịt ngơi trên mái nhà.

Sau tiếng nấc, mắt già chợt quắc,
Người mím môi dập tắt cơn sầu,
Lạnh lùng gói lại buồn đau,
Cầm như mình đã từ lâu góa chồng.

Le lói bên song
Tia nắng hồng năm mới.

Trần Văn Lương
Cali, 1/2017

Nhắn Kẻ Trở Cờ

Dạo:
Quê hương mất, cửa nhà tan,
Sao còn theo lũ tham tàn hại dân.

Hỡi người bạn trở cờ theo lũ giặc
Đang nắm quyền sinh sát ở quê tôi,
Đừng chỉ vì chút canh cặn cơm ôi,
Mà thay chúng nói rặt lời dối trá.

Chúng luôn mồm ra rả,
Đánh lừa thiên hạ khắp nơi.
Và chẳng may, đâu đâu cũng có người,
Vẫn nhẹ dạ tin trò chơi bịp bợm.

Này bạn hỡi, đừng đem lời chúng mớm,
Để qua đây luôn sớm tối kêu gào.
Bạn giết người mà chẳng dụng gươm dao,
Khi theo chúng rêu rao điều gian dối.

Đừng dẫn chứng đám cò mồi múa rối,
Bọn thầy tu giả mạo mới ra lò,
Rồi phùng mang trợn mắt hót líu lo,
Rằng đất nước có tự do tôn giáo.

Chúng tóm kẻ chức quyền cao trong đạo,
Cho xênh xang áo mão để reo hò,
Để thổi phồng chiếc bánh vẽ “xin cho”,
Hoặc trình diễn lắm trò hề tương tự.

Chúng bắt chẹt tình cảm người xa xứ,
Dụ họ về bằng hai chữ “quê hương”,
Bằng những câu giả dối ngọt như đường,
Bằng hình ảnh của “vườn” kia “trái” nọ.

Rồi hốt trọn bầy “cá hồi” vô rọ,
Vắt cạn tiền, xong vất bỏ thẳng tay.
Chuyện sờ sờ trước mắt chẳng chịu hay,
Sao bạn vẫn luôn cối chày ngụy biện?

Đừng núp bóng dưới chiêu bài “từ thiện”,
Miệng oang oang toàn nói chuyện thương người,
Nhưng thực ra là về để ăn chơi,
Cùng đóng kịch mong được đời ca ngợi.

Đừng lợi dụng chuyện thiên tai lụt lội,
Để làm giàu trên nỗi khổ của dân.
Thiên hạ ai cũng biết rõ trăm phần,
Mà sao bạn vẫn trần thân lải nhải?

Đừng ong óng toàn những câu nhai lại,
Nào ” giao lưu”, nào “hòa giải”, “thứ tha”.
Sao bạn không dám bảo bọn tà ma,
Ngưng bách hại người sa cơ thất thế?

Đừng trâng tráo nói “không làm chính trị”,
Khi chính mình xin tỵ nạn nơi đây,
Khóc sụt sùi khai với Mỹ, với Tây,
Vì sao phải đắng cay rời quê cũ.
*
*     *
Thân nhược tiểu, mong manh quyền tự chủ,
Bị “đồng minh” bán cho lũ sài lang.
Nên chúng tôi phải đau đớn tan hàng,
Chua xót đứng nhìn giang san tơi tả.

Vì lương thiện, chúng tôi đà trả giá,
Bằng khăn tang của cả triệu người thân,
Bằng những dòng lệ ngập mắt cá chân,
Bằng sinh mạng ngàn quân dân cán chính.

Vì tưởng chúng còn mảy may nhân tính,
Nên bao người đã dính phải tai ương,
Kẻ bỏ mình trong núi thẳm mù sương,
Kẻ giũ kiếp giữa trùng dương sóng gió.

Cũng vì bởi những người như bạn đó,
Mà quê ta, giặc đỏ vẫn cầm quyền,
Sống giàu sang, phung phí những đồng tiền
Từ xa trút liên miên về chốn cũ.

Bạn hỡi bạn, sao đang tâm hưởng thụ,
Trên vết thương đầy máu mủ dân mình,
A tòng theo bọn bán nước cầu vinh,
Để tiếp tục làm điêu linh đất tổ.

Dân tộc Việt chỉ hoàn toàn hết khổ,
Khi lũ này không còn chỗ dung thân,
Khi Cờ Vàng phất phới giữa trời xuân
Theo nhịp bước đoàn quân Nam anh dũng.
*
*     *
Bốn mươi mấy năm từ khi buông súng,
Quá khứ buồn giờ chắc cũng phôi pha.
Bao triệu người, còn mấy kẻ xót xa,
Khi nhớ đến một quê nhà đã mất.

Trần Văn Lương
Cali, đầu mùa Quốc Hận
4/2016

Hứa Với Tao

Dạo:

Trải qua một cuộc đổi đời,
Mấy ai còn giữ được lời thề xưa.
Cóc cuối tuần:

3598579037

Hứa Với Tao

Thằng bạn vàng nối khố của tao ơi,
Đã mấy chục năm trời chưa gặp lại,
Kể từ buổi hai thằng cùng xuống bãi,
Mày thoát đi, tao thất bại quay về.

Tao mừng vui, dù đói rách ê chề,
Đoán mày chửa quên câu thề năm trước,
Vì thiên hạ về ăn chơi lũ lượt,
Chưa thấy mày theo bước họ lon ton.

Nhưng mưa lâu đá núi cũng phải mòn,
Sợ mai mốt mày không còn như cũ,
Nên tao muốn gởi đôi lời nhắn nhủ,
Tạm gọi là để thủ thỉ cùng nhau.

Không cần mày gửi tiền bạc cho tao,
Chung quanh khổ làm sao tao vui sướng.
Cần mày hứa đừng phụ lòng tin tưởng
Của toàn dân đang vất vưởng trông chờ.

Hứa với tao mày sẽ chẳng bao giờ,
Nối đuôi những kẻ trở cờ theo giặc.
Và đừng để lợi danh làm tối mắt,
Mà thay lòng trở mặt với tổ tiên.

Hứa với tao đừng tính chuyện đem tiền,
Về làm chủ rồi ăn trên ngồi trước,
Trong khi đó, kẻ làm công xuôi ngược,
Hiếm khi nào kiếm được bữa cơm no.

Hứa với tao, dù cửa rộng nhà to,
Đừng bày đặt dở trò làm “từ thiện”,
Mà thực tế chỉ tạo thêm phương tiện,
Cho bạo quyền vĩnh viễn ở trên ngôi.

Hứa với tao đừng tính chuyện ăn chơi,
Trên thân xác những người con đất Việt.
Hãy nghĩ đến những đắng cay oan nghiệt,
Quanh dân ta đã siết chặt bao đời.

Hứa với tao dù vật đổi sao dời,
Phải luôn nhớ mày là người tị nạn,
Không chấp nhận lũ bạo tàn Cộng sản,
Nên xuống thuyền liều mạng bỏ ra đi.

Hứa với tao mày sẽ chỉ “vinh quy”,
Khi lũ giặc man di không còn nữa,
Khi dân chúng có tự do chọn lựa,
Khi nhân quyền về lại giữa giang san.

Hứa với tao mỗi độ tháng Tư sang,
Hãy đứng dưới lá Cờ Vàng khấn nguyện,
Hãy nhớ đến những người cùng chiến tuyến,
Và những ai vượt biển đã không còn.

Hứa với tao mày sẽ nhắc cháu con,
Luôn nghĩ đến dải non sông nước Việt
Đang dần mất vào trong tay lũ Chệt,
Và dân mình đang xiết nỗi lầm than.

Hứa với tao đừng nghe lũ Việt gian,
Sáng “hòa hợp”, chiều oang oang “hòa giải”,
Vì mỗi bận chúng lu loa lải nhải,
Là chúng đang tính kế hại đồng bào.

Hứa với tao, mày hãy hứa với tao,
Dù thời cuộc có thế nào đi nữa,
Vẫn giữ hoài ngọn lửa,
Mai sau về thắp giữa non sông.

Mày hứa đi để tao được yên lòng,
Ngày ngày bán vé số rong kiếm sống,
Nhưng ít nhất còn tí ti hy vọng,
Chế độ này sẽ chóng bị dẹp tan.

Tao tin mình sẽ không mất giang san,
Nếu may mắn toàn dân Nam hết sợ,
Và đâu đó vẫn có người trăn trở,
Vẫn như mày luôn nhớ đến quê hương.

x

x x

Người thương binh hãnh diện đứng rưng rưng,
Nào có biết cách chừng mươi dãy phố,
Thằng bạn cũ – “thằng bạn vàng nối khố” –
Đang xun xoe, miệng hô hố nói cười.

Trần Văn Lương
Cali, 30/4/2014

 

 

 

 

Bài này đã được đăng trong Sưu Tầm. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.